Du lịch Hà Tĩnh

Chùa Am – Hà Tĩnh – Sen Trắng – Chùa Việt Nam

Chùa Am – có tên chữ là Diên Quang Tự, được xây dựng trên sườn núi cao phía Nam của núi Am Sơn, xưa thuộc xã Phụng Công, tổng Đông Công, phủ Đức Thọ, nay là xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Chùa Am được Hoàng hậu Bạch Ngọc cho xây dựng vào nửa đầu thế kỷ 15 làm nơi tu hành của con gái là công chúa Huy Chân và cháu gái công chúa Trang Tử. Theo các tài liệu thư tịch cổ, Hoàng hậu Bạch Ngọc tên thật là Trần Thị Ngọc Hảo, người làng Tri Bản, xã Thổ Hoàng (nay là xã Hòa Hải, huyện Hương Khê – tỉnh Hà Tĩnh) đời vua Trần Duệ Tông (1373) – 1377) được tuyển làm vợ lẽ và sinh ra công chúa Trần Thị Ngọc Hiền, thụy hiệu là Huy Chân công chúa.

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, quân Minh lấy cớ “diệt Hồ” kéo quân sang xâm lược nước ta. Hoàng hậu Bạch Ngọc cùng đám gia nhân, hầu cận gồm 572 người, trốn khỏi Hoàng thành lánh nạn ở quê hương bản quán. Họ chọn vùng Cốc Sơn, Trà Sơn để lập nghiệp, chiêu dụ người dân nơi đây khai hoang lập ấp, phát triển sản xuất. Sau nhiều năm miệt mài bền bỉ, một trang trại rộng tới 3.965 mẫu đã được khai phá với khoảng 3.000 nhân khẩu chia làm 4 trang gồm Lại Sơn, Ngũ Khê, Hằng Nga và Tùng Chính, là những đơn vị hành chính tương đương một vùng. Khu vực địa lý rộng lớn này ngày nay thuộc các huyện Vũ Quang, Đức Thọ và Can Lộc. Hoàng hậu cũng gả các gia nhân và cung phi, sau đó đặt tên hai làng là Kinh – Kỳ và Trung – Phạm, không thay đổi cho đến ngày nay.

Khi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa, kéo quân vào căn cứ Đỗ Gia ở huyện Hương Sơn, nghĩa quân tình cờ phát hiện ra trang trại của Hoàng hậu Bạch Ngọc. Biết được sự việc, tướng quân Bùi Bị liền dẫn Hoàng hậu và công chúa Huy Chân đến gặp Tể tướng. Hoàng hậu xin tặng toàn bộ lương thực, tiền bạc, nhân lực, trang trại được xây dựng nhiều năm cho nghĩa quân Lam Sơn, góp phần giúp nghĩa quân liên tục đánh thắng quân Minh trong nhiều trận đánh ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, xứ Quảng. Cái lọ. Lê Lợi lấy Huy Chân làm vợ lẽ, sinh ra Lê Thị Ngọc Châu, hiệu là Trang Tử Công chúa.

Sau đại thắng Chi Lăng – Xương Giang tiêu diệt toàn bộ quân Minh xâm lược, Lê Lợi lên ngôi mở ra triều đại Lê Sơ. Hoàng hậu Bạch Ngọc xin Vua cho dựng chùa Am để tu hành với công chúa Huy Chân. Công chúa Trang Tử kết hôn với tướng Bùi Ban, con trai của tướng Bùi Bị, ông chết trận khi tiến đánh Chiêm Thành. Công chúa Trang Tử sau đó xin đi tu ở chùa Am với mẹ và bà, theo tục lệ thời bấy giờ, ai không có con trai nối nghiệp khi chồng mất thì đều xuất gia tu hành, lễ Phật.

Như vậy, chùa Am là nơi chứng kiến ​​và ghi dấu nhiều sự kiện, nhân vật lịch sử quan trọng của triều đại Lê Sơ. Ngoài giá trị lịch sử tiêu biểu, chùa Am còn là một công trình kiến ​​trúc nghệ thuật độc đáo, hiếm hoi còn sót lại của thời Lê trên đất Hà Tĩnh.

Trải qua nhiều năm tồn tại, chùa đã nhiều lần được trùng tu, sửa chữa, nhiều chi tiết kiến ​​trúc bị thay đổi không còn nguyên bản. Tuy nhiên, hình dáng và phong cách kiến ​​trúc của đền vẫn giữ được phong cách kiến ​​trúc thời Lê, đó là kiến ​​trúc bố cục bên trong theo chiều dọc theo hình chữ “công” (I). Toàn bộ ngôi chùa dài 18,50m, rộng 8,50m, gồm 8 vì kèo cho 7 gian chính, 2 đầu hồi được tạo bởi các cột hiên trước và sau. Toàn bộ chùa có 60 cây cột bằng gỗ mít với 12 mái kiểu chồng diêm. Mỗi vì kèo gồm 2 cột cái cao 3,85m, đường kính 0,33m, 2 cột quân cao 2,90m, đường kính 0,30m và 2 cột hiên cao 2,20m, đường kính 0,22m. Kết cấu vì kèo theo kiểu nhà rường, hệ thống cột, kèo, xà ngang, xà dọc, tải ngang, cầu đều bằng gỗ mít và liên kết, giằng nhau tạo thành bộ khung vô cùng chắc chắn.

Kết cấu mái phức tạp hơn vì chùa làm 12 mái chồng diêm, các mái dọc, ngang được thiết kế hợp lý nên nhìn từ hướng nào chùa cũng có vẻ là chính diện. Hai mái chính (8 mái) chồng lên nhau ở các đầu cột quân. Lan can mái ở thượng điện được đặt trên đuôi xà nách từ cột chính, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống mái dài và rộng của chùa. 4 mái phụ được xử lý khéo léo khi cắt bớt các mái chính chạy dọc cùng hệ thống gờ mái khép kín không bị ảnh hưởng khi có mưa lớn, nước bão xâm nhập.

Nhìn tổng thể, kết cấu toàn bộ hệ thống khung gỗ và mái của ngôi chùa tạo cảm giác vừa đồ sộ, khang trang, kiên cố nhưng uyển chuyển, mềm mại. Các công trình phụ của ngoại thất cũng làm tăng thêm giá trị kiến ​​trúc của công trình này, đó là các hành lang và sân chùa được xây kín bằng các dãy lan can, các bức tường được xây bằng những ô thấp, có đắp hoa văn phù hợp với các các tòa nhà. Các họa tiết trang trí ở các cửa mở của chùa. Do địa hình sườn đồi thoai thoải nên lối lên xuống sân chùa được tạo 2 lối đi riêng biệt bên trái và bên phải, mỗi bên gồm 15 bậc đá, có lan can xây cẩn thận. Giữa hai lối đi, dựng một “bàn mát” để Hoàng hậu ngồi ngắm cảnh hồ sen phía trước và phía dưới; Phía trên – phía sau xây cổng trước sân chùa. Các công trình này có quy mô không lớn nhưng rất hợp lý và đặc biệt tuân thủ nghiêm ngặt công thức xây dựng công trình tín ngưỡng tâm linh, đặc biệt là cách bố trí mặt bằng và sử dụng phép đối xứng phổ biến thời Lê.

Cùng với hệ thống kiến ​​trúc độc đáo của ngôi chùa, cách bài trí bên trong cũng được đặc biệt chú trọng. Trong số 7 gian chính được đưa vào sử dụng, 4 gian ngoài là nơi dành cho các phật tử thực hiện các nghi lễ tôn giáo khi làm lễ cầu siêu hoặc các buổi lễ chính của chùa và là nơi các sư hàng ngày làm lễ cầu siêu, tụng kinh. Đức Phật. Ba gian trong cao hơn một bậc là hệ thống bàn thờ Phật: trên cùng là bộ tượng Phật; Chính giữa có tượng Phật Bà Quan Âm, bậc dưới là thờ Phật Thích Ca, Thiên Thủ Thiên Nhãn, Nam Tào, Bắc Đẩu. Bên trái có tượng Tỳ kheo ni, bên phải có tượng Hoàng hậu Bạch Ngọc bằng đồng lớn bằng gỗ khảm trai, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng. Hiện chùa Am lưu giữ 16 pho tượng cổ bằng gỗ sơn son thếp vàng và một số tượng Phật mới được tạo tác. Các pho tượng cổ đáng chú ý là bộ Tam thế Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen, gương mặt thanh tú với các tư thế thiền định. Các pho tượng khác cũng có giá trị không kém, được làm cẩn thận, công phu bằng gỗ mít sơn son thếp vàng, thể hiện trình độ cao về nghệ thuật tạo hình cũng như kỹ thuật chạm khắc, trang trí gắn với tín ngưỡng tâm linh. tinh thần của các nghệ sĩ.

Cảnh quan chùa Am đẹp và yên bình bởi chùa nằm trên một ngọn đồi cao, nhấp nhô với nhiều phiến đá tự nhiên giống như các phật tử đang thờ cúng gọi là Phật thủ. Chùa quay mặt về hướng Nam, xa xa là dãy Khai Trường tựa như bức màn của hệ thống Trường Sơn hùng vĩ, lưng chùa tựa vào vách núi Am Sơn tạo thế trường tồn và bền vững. Bốn hướng khu chùa dân cư đông đúc, làng mạc trù phú trải dài vô tận… Trong khuôn viên chùa, các công trình kiến ​​trúc cổ như hệ thống am tháp, điện thờ Mẫu, nhà thờ Tổ… vẫn còn nguyên vẹn bên dưới. tán lá của những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Chùa Am xứng đáng với danh hiệu là một di tích vừa có giá trị lịch sử, văn hóa, giá trị kiến ​​trúc nghệ thuật độc đáo, vừa là một danh lam thắng cảnh tiêu biểu của xứ Hồng Lam.

Chùa Am còn ẩn chứa bao điều kỳ diệu, truyền thuyết của hơn 600 năm tồn tại và biến đổi cùng tiến trình lịch sử của đất nước. Vùng đất này hiện nay ngày càng đổi mới và phát triển; Chùa Am cũng đang đấu tranh để hồi sinh và phát triển thịnh vượng như chính nơi khai sinh ra nó: Điện Quang Tự. Chùa Am đã có sư trụ trì và ban quản trị đủ năng lực quản lý và phục vụ Phật đường. Chư tôn đức, thiện nam, tín nữ và du khách thập phương về chùa Am ngày càng thành tâm cúng dường đức Phật, cầu mong cho mọi người có cuộc sống an lành, bình an, thịnh vượng.

Ngày 13/12/1995, Bộ Văn hóa – Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định xếp hạng chùa Am là Di tích lịch sử – kiến ​​trúc cấp quốc gia. Chùa Am rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ có hiệu quả của các ngành, các giới để mãi mãi xứng đáng là viên ngọc quý, là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.

Related Articles

Back to top button