Du lịch Phú Thọ

Cột cờ thành Hưng Hoá – Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ

Cột cờ của thành Hưng Hóa là biểu tượng thiêng liêng của nhân dân tỉnh Hùng và đã trở thành biểu tượng cho tinh thần kháng chiến chống Pháp của Nguyễn Quang Bích và nghĩa quân Cần Vương ở Tây Bắc.

Cắt băng khánh thành trùng tu Cột Hưng Hóa – Phú Thọ

1. Cột cờ hay còn gọi là cột cờ được xây dựng ở trung tâm thành Hưng Hóa. Vào thế kỷ 19, dưới triều Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 12 (1831) tỉnh Hưng Hóa được thành lập, bao gồm toàn bộ vùng núi. thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái, Nghĩa Lộ sau này. Tỉnh lỵ đặt tại làng Trực Phê (thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông ngày nay).

Thành Hưng Hóa là thủ phủ của đạo Thừa Tuyên Hưng, sau là trấn Hưng Hóa. Thành Hưng Hóa do Nguyễn Quang Bích trấn giữ có vị trí chiến lược quan trọng, từ đây có thể tiến lùi, triển khai lực lượng tác chiến rất thuận lợi. Đây là nơi nhà yêu nước Nguyễn Trường Tộ – một nhà cải cách giữa thế kỷ 19, trong lời khai tâm huyết của mình, đã từng lưu ý triều đình Tự Đức “phải giữ vững Tam Tuyền để kế tục lâu dài” (Tam Tuyền). là đất Thừa Tuyên Hưng đô hộ phủ từ thời Lê Thánh Tông).

Thành Hưng Hóa hay còn gọi là thành Trực Phàm. Tường thành hình vuông, mỗi cạnh dài 360m, nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Theo “Đại Nam nhất thống chí”: “Thành Hưng Hóa có chu vi hơn 360 thước (1.440m), cao 1 trượng 2 thước 1 thước (gần 5m), hào rộng 2 thước 2 thước ( rộng hơn 9 thước, sâu 6 thước 9 tấc (2,8 thước), có bốn cửa ra vào, lúc đầu xây dựng vào thời vua Gia Long, đắp bằng đất, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). ) được xây lại bằng đá ong, trong thành có cột cờ (còn gọi là tháp cờ), được xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1842).

2. Cột cờ ở thành Hưng Hóa gắn liền với sự nghiệp Cần Vương của Nguyễn Quang Bích (có người gọi là khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích), một chí sĩ yêu nước đã giương cao ngọn cờ Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược. những năm cuối của thế kỷ XIX.

Nguyễn Quang Bích Sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (7 tháng 5 năm 1832) tại làng Trình Phố, tổng Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là thôn Trinh Nhất, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) . .
Ông vốn là người họ Ngô, là hậu duệ của vua Ngô Quyền dựng nước, là công thần của nhà Hậu Lê – Ngô Từ – ông nội của vua Lê Thánh Tông, nhưng do ông nội đổi họ ngoại thành họ Nguyễn, sử sách chép lại. thường gọi anh là Nguyễn Quang. Bích. Nguyễn Quang Bích là học trò của Tiến sĩ Đoàn Khuê. Năm 1861, ông đỗ cử nhân, được bổ làm Giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Năm Kỷ Tỵ (1869) đời Tự Đức, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng Giáp). Sau đó, ông được bổ làm Tri phủ Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ ngày nay), rồi đến Diên Khánh (tỉnh Khánh Hòa ngày nay) và lần lượt làm Án sát tỉnh Sơn Tây, Án sát Huế, tòa án tử hình. gần tỉnh Bình Định.

Năm Ất Hợi (1875), vua Tự Đức giao cho ông xem lại cuốn Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Cùng năm, triều đình mở trại doanh điền ở Hưng Hóa (tỉnh Phú Thọ ngày nay) vừa khai hoang, trấn giữ núi rừng Tây Bắc, ông được phong làm Tiết độ sứ. Năm sau (1876) ông kiêm chức Tri phủ tỉnh Hưng Hóa. Tại đây, Nguyễn Quang Bích phối hợp với Tôn Thất Thuyết và Hoàng Tá Viêm vừa đánh bại vừa thao túng các đạo quân của Trung Quốc mà sử cũ gọi là “giặc khách” (tàn tích của các cuộc kháng chiến chống Thanh, nhưng đã biến chất). Đặc biệt, trong số những người mà Nguyễn Quang Bích động đến có Lưu Vĩnh Phúc, thủ lĩnh quân Cờ đen (dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc).

Năm 1884, sau khi chiếm được Hà Nội và hầu hết các tỉnh Bắc Kỳ, quân Pháp tập trung đánh Hưng Hóa.
Ngày 10 tháng 4 năm 1884 (tức ngày 15 tháng 3 âm lịch), tại khu vực thành Hưng Hóa đã diễn ra trận chiến ác liệt giữa giặc Pháp và liên quân Việt Nam do Hoàng Kế Viêm, Nguyễn Quang Bích và quân đội Việt Nam. Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy. Quân Pháp đông đảo, có tới 2 lữ đoàn, được trang bị vũ khí hiện đại, bao vây thành từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 4. Đến trưa ngày 12, thành Hưng Hóa thất thủ vào tay quân Pháp. Theo gương của Tổng trấn Hà Nội – Hoàng Diệu, ông định tự tử ngay trên vọng lâu của di tích, nhưng nhờ những người lính trung thành, dũng cảm đã phá được vòng vây và cứu được ông ra khỏi kinh thành. Tại đây, ông nói với các tướng lĩnh và con cháu của mình: “Ta đã hứa với Tổ quốc, không cần về thăm, sau này nếu có nhớ ta, cứ lấy niên hiệu của thành Hưng Hóa làm ngày kỷ niệm.”

Sau khi thoát khỏi thành Hưng Hóa, Nguyễn Quang Bích gom hết quân chạy về Tứ Mỹ, tiếp đến là Ao Lộc (Tuy Lộc) rồi vào Tiên Động (nay là xã Tiên Lương, huyện Cẩm Khê) lập căn cứ tiếp tục. sự ngăn trở. Pháp.
Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi ban hành chiếu Cần Vương. Biết Nguyễn Quang Bích là người có chí, có tài, vua phong ông làm Thượng thư, làm Hiệp thông Bắc Kỳ quân vụ, tước Thuận Trung hầu tước hầu; chịu trách nhiệm tổ chức cuộc kháng chiến ở Tây Bắc (Bắc Bộ). Từ đó, ông vừa trực tiếp chỉ huy lực lượng kháng Pháp ở Tây Bắc, vừa chủ động liên lạc với các thủ lĩnh: Nguyễn Thiện Thuật, Đào Văn Trụ, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh… nên đã thu hút được nhiều người. Các học giả, đội tiên phong, tù trưởng và nhân dân đã tham gia ủng hộ và đi theo cuộc khởi nghĩa.

Trong hai năm 1885-1886, ông hai lần sang Trung Quốc cầu cứu (nhưng không thành, do triều đình nhà Thanh thỏa hiệp với thực dân Pháp), mua sắm vũ khí và phối hợp hoạt động với nhiều nhóm nghĩa quân khác. ở Bắc Kỳ.

Cuối năm 1886, Nguyễn Quang Bích trở về Việt Nam. Xét thấy địa thế Tiên Động khá hẹp, lại thêm yêu cầu chiến lược mới, chuẩn bị cho việc vua Hàm Nghi ra Bắc, ông cùng Nguyễn Văn Giáp (tức Bố Giáp, một cộng sự đắc lực) đưa quân lên. Nghĩa Lộ (trước thuộc huyện Văn Chấn, nay là thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái) xây dựng căn cứ mới.

Tháng 4 năm 1888, Thống chế Nam Kỳ gửi thêm viện binh đến Bắc Kỳ. Ngay sau đó, quân Pháp chia làm hai đạo quân tiến về Nghĩa Lộ. Nhóm thứ nhất gồm 400 quân do thiếu tá Bose chỉ huy từ Ngòi Hòi (tức Đại Lịch). Tập đoàn quân thứ hai gồm 384 quân do Thiếu tá Berger chỉ huy tiến từ Ngòi Lao. Trên đường đi, cả hai đạo quân đều bị thiệt hại nặng do các trận phục kích và dịch bệnh nên dù chiếm được một số nơi, chúng vẫn phải rút lui.

Chống cự ở đây thêm vài tháng, Nguyễn Quang Bích đưa một số quân từ Nghĩa Lộ lên Yên Lập, một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, để tăng cường phong trào kháng chiến ở vùng này. Từ đây, ông đã cử nhiều đạo quân đi đánh phá các nơi. Công việc đang thu được kết quả thì bất ngờ ông lâm bệnh nặng và qua đời tại núi Tồn Sơn, (thuộc xã Mỗ Xuân, xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ) vào ngày rằm tháng Chạp năm Ất Mùi. con hổ. (tức ngày 24 tháng 1 năm 1890). Trước khi chết, ông nói với binh lính “… Nếu bạn thắng, nếu bạn sống, bạn sẽ là một thành viên của tòa án; nhưng chẳng may thua thì có chết cũng trở thành ma thánh giết giặc … ”.

Nguyễn Quang Bích còn lại Thực hành kỳ thi của ngư dân (Tập thơ Ngự Phong), gồm 97 bài thơ chữ Hán, phần lớn là thơ Đường luật, sáng tác trong những năm Người lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp, thể hiện tiếng nói căm giận, tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử. . Ngoài ra, ông còn viết những bài văn, câu đối, lời tưởng niệm đồng đội hy sinh trong trận chiến, “Thư gửi quân đội Pháp” với những lời lẽ khẳng khái, ý chí hy sinh vì độc lập, dân tộc.

3. Sau khi hòa bình lập lại (1954), khi đến thăm di tích thành cổ.

Ở Hưng Hóa, chúng tôi chỉ biết dấu vết chân thành còn lại chạy dọc theo đường Tân Hưng và bệ cột cờ nằm ​​trong khu vực doanh trại quân đội (Lữ đoàn 543) ở trung tâm thị trấn Hưng Hóa. Hình bóng thành cổ, cột cờ, Văn Miếu tỉnh Hùng đều đã đi vào dĩ vãng. Tất cả đều bị phá hủy trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1947).
Cột cờ của thành Hưng Hóa là một trong những di sản văn hóa có lịch sử lâu đời, có từ thời nhà Nguyễn. Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Hưng Hóa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự của một vùng đất rộng lớn Tây Bắc. Cột cờ thành Hưng Hóa là một trong 5 cột cờ lớn nhất cả nước: Cột cờ kinh thành Huế, cột cờ Hà Nội, cột cờ Nam thành, cột cờ thành Sơn Tây, được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn từ thời vua Minh Mạng đến thời vua Minh Mạng. . Vua Thiệu Trị.

Cột cờ của thành Hưng Hóa là biểu tượng thiêng liêng của nhân dân tỉnh Hùng và đã trở thành biểu tượng cho tinh thần kháng chiến chống Pháp của Nguyễn Quang Bích và nghĩa quân Cần Vương ở Tây Bắc.
Năm 2009 với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Tam Nông nói riêng; Cột cờ của thành Hưng Hóa được trùng tu trên nền cũ. Cột cờ có 3 tầng:

Tầng 1 hay còn gọi là đế vuông lớn, mỗi cạnh dài 17,52m, cao 2,4m.

Tầng 2 hay còn gọi là tiểu đế cũng hình vuông, mỗi cạnh dài 11,4m, cao 3,1m.

Tầng 3 còn gọi là cột cờ, hình bát giác thon, cao 18,34m, bên trong có 55 bậc xây hình xoắn ốc lên đỉnh; có cửa sổ vọng lâu; đỉnh có trụ tròn (cán cờ).

Tổng chiều cao của cột cờ từ mặt đất đến nóc là 23,84m.

Cột cờ Hưng Hóa là niềm tự hào của nhân dân Phú Thọ nói chung và nhân dân huyện Tam Nông nói riêng.
Các di tích Cột cờ Thành Hưng Hóa, Đền thờ Nguyễn Quang Bích, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Thành cổ Hưng Hóa… khi được trùng tu về tổng thể sẽ tạo nên điểm du lịch hấp dẫn cho du khách mỗi lần về thăm. Đất Tổ Hùng Vương.

Related Articles

Back to top button