Du lịch Bắc Ninh

Đền bà Chúa Kho ngôi đền linh thiêng vay vốn

Cứ đến ngày 14 tháng Giêng hàng năm, người dân cả nước lại nô nức đi lễ đền Bà Chúa Kho để cầu may, đặc biệt là giới kinh doanh, buôn bán. Dường như không khí náo nhiệt và đông vui hơn với những buổi gặp mặt đặc biệt. Hãy cùng chúng tôi du lịch Bắc Ninh, tham quan và khám phá đền Bà Chúa Kho.

Khu di tích đền Bà Chúa Kho có cổng tò vò rất lớn,
Khu di tích đền Bà Chúa Kho có cổng tò vò rất lớn,

Vậy, câu chuyện đền Bà Chúa Kho như thế nào?
Theo truyền thuyết, Bà Chúa Kho là người phụ nữ xinh đẹp, khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông coi bảo vật quốc gia trong và sau chiến thắng Như Nguyệt (1076) do Lý Thường Kiệt lãnh đạo. Bà còn có công chiêu dân lập ấp ở các vùng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng, giúp dân khai khẩn đất nông nghiệp.
Sau này, bà trở thành hoàng hậu dưới triều Lý, giúp vua việc nước, giữ gìn kho lương thực. Cô bị kẻ thù giết khi đang phát tiền công giúp đỡ dân làng. Cảm kích trước tấm lòng nhân hậu của bà, nhà vua phong bà là Phúc Thần. Người dân Cổ Mễ nhớ ơn và dựng đền Bà Chúa Kho tại vị trí kho lương thực xưa trên núi Khói và gọi bà bằng cái tên trìu mến: Bà Chúa Kho.

Tượng Bà Chúa Kho đội mũ lưỡi trai
Tượng Bà Chúa Kho đội mũ lưỡi trai

Trong tín ngưỡng của người Việt, hình tượng Bà Chúa Kho rất độc đáo. Bà vừa là nhân vật huyền thoại vừa là nhân vật lịch sử. Thờ Bà có sự hội tụ của tín ngưỡng thờ nữ thần và tôn vinh người anh hùng có công khai khẩn bờ cõi, xây dựng cộng đồng, hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ quốc.
Đó là hiện tượng phổ biến thể hiện tâm linh, tín ngưỡng và truyền thống văn hóa của người Việt trong việc ngưỡng mộ, tôn thờ những người có công với dân, với nước. Và quan trọng nhất, qua những truyền thuyết về Bà Chúa Kho, chúng ta vẫn thấy một sự thật lịch sử được phản ánh và nuôi dưỡng trong đó. Đến nay, tục thờ Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ không còn được ghi chép.
Ngôi đền và hệ thống bài trí, tượng thờ không còn, kể cả sự tích hợp sâu sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu, đến mức lấn át nội dung của đền thờ nữ thần Bà Chúa Kho. Bàn thờ được bài trí theo tín ngưỡng Tứ phủ. Tam tòa Thánh Mẫu ở vị trí chính, xung quanh là các ban chầu, ban Đức ông. Tầng dưới, ngoài để Hội đồng Tứ phủ có hai ông hoàng: Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, cũng được đặt ở một gian thờ riêng. Dưới đây là bộ Bát sơn trang.

Công trình kiến ​​trúc đền Bà Chúa Kho
Công trình kiến ​​trúc đền Bà Chúa Kho

Tuy nhiên, trên tầng cao nhất, ngay sau ban thờ Thánh Mẫu vẫn là tượng Bà Chúa Kho bằng đồng với danh hiệu Linh Từ Quốc Mẫu. Ngoài việc cúng bái, khách hành hương đi lễ chùa còn có mục đích cầu tài lộc bằng cách vay tiền, xin lộc bà. Chính phong tục này là nét độc đáo thu hút du khách thập phương đến chùa. Tiền vay của bà thường là tiền thật, vài đồng Việt Nam, nhưng cũng có khi là tiền thánh (tiền địa ngục). Nếu khách hàng đăng ký vay một lượng vàng (tượng trưng).
Cô ấy cũng đồng ý. Có vay thì mới có nợ. Việc trả nợ cũng rất công bằng, bao gồm cả lãi suất và tất nhiên, người vay thể hiện lòng biết ơn bằng cách cảm ơn. Thực tế, không chỉ có đền Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ mới có tục vay tiền thần tài. Phong tục này được điều chỉnh bởi tín ngưỡng tâm linh của người Việt Nam. Đó là loại niềm tin “không thể giải thích bằng ngôn ngữ, bằng logic thông thường.

Vui lễ hội Đền Bà Chúa Kho
Vui lễ hội Đền Bà Chúa Kho

Đối với tư duy khoa học duy lý, niềm tin đó là viển vông, nhảm nhí! Vậy mà trong cuộc sống, niềm tin ấy lại có sức mạnh to lớn, ở đó người ta tìm thấy toàn bộ cái nhìn về vũ trụ, thế giới quan, nhân sinh quan ”(GS. Tô Ngọc Thanh). Ở một khía cạnh nào đó, tín ngưỡng tôn giáo này có ý nghĩa giáo dục đạo đức sâu sắc. Với niềm tin đó, người dân biết đối nhân xử thế tốt hơn, biết ơn người cho vay và coi họ như ân nhân.
Dưới góc độ tín ngưỡng tích cực, vay tiền (không đòi miễn phí) ở đây không bị ràng buộc bởi những thủ tục trần tục như thế chấp, làm giấy tờ, thậm chí là “dùng luật”… mà chỉ bị ràng buộc. bằng niềm tin tâm linh, bằng kỷ luật tự giác
Nhưng những khoản vay đó không bị “đập”, “thổi” như đã từng xảy ra trên thế giới. Vì vậy, phong tục tập quán này có ý nghĩa tích cực sâu sắc trong việc bồi dưỡng tinh thần văn hóa, giáo dục con người làm ăn chân chính, sống có đạo đức.
Từ thời Pháp thuộc, Đền Bà Chúa Kho đã có rất nhiều thương nhân ở Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận đến đây cầu nguyện, chiêm bái. Ngôi chùa ngày ấy rất nhỏ. Đầu thế kỷ XX, người Pháp xây dựng nhà máy giấy Đông Dương ở núi Kho.

Hàng nghìn người về dự lễ hội đền Bà Chúa Kho
Hàng nghìn người về trẩy hội đền Bà Chúa Kho

Đây là một loài thực vật rất lớn, bao phủ gần như toàn bộ ngọn núi. Khi đó, người Pháp định phá bỏ ngôi chùa nhưng vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dân địa phương.
Năm 1967, khi giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, thành phố Bắc Ninh cũng là một trong những trọng điểm đánh phá của địch. Điều kỳ lạ là dù máy bay địch thả bom xuống làng Cổ Mễ, san bằng nhiều điểm ở thành phố Bắc Ninh, cày xới núi Kho nhưng không một quả bom nào rơi trúng chùa.
Năm 1989, Đền Bà Chúa Kho được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và được tỉnh Bắc Ninh trùng tu, mở rộng với quy mô lớn.
Hàng năm, dù 14 tháng Giêng là ngày chính hội nhưng từ nhiều năm nay, ngay từ những ngày đầu xuân và kéo dài suốt tháng Giêng, dòng người đổ về đền Bà Chúa Kho rất đông. Mỗi khi Tết đến xuân về, năm cũ qua đi, năm mới lại đến. Người dân đổ về Bà Chúa Kho để trả nợ năm cũ, vay tiền đón năm mới. Điều này đã trở thành thông lệ đối với nhiều người. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, nếu bạn là người kinh doanh thì hãy một lần đến đền Bà Chúa Kho để cầu tài lộc.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button