Du lịch Hưng Yên

Về Hưng Yên khám phá cụm di tích đền Đa Hòa – đền Dạ Trạch – cửa Hàm Tử – Bãi Sậy

Để đến được cụm di tích, du khách có thể đi theo hai cách: Đường thủy, từ bến Chương Dương Độ (42 Chương Dương Độ, Hà Nội), đi thuyền xuôi theo dòng sông Hồng về phía đông khoảng hơn 2 giờ đồng hồ. Bến Bình Minh (xã Bình Minh, huyện Khoái Châu), hay bằng đường bộ, từ Hà Nội đi theo đường ven đê sông Hồng hơn 20km là đến xã Bình Minh. Từ đây, du khách sẽ đến điểm đầu tiên trong cụm di tích, đó là đền Đa Hòa tọa lạc tại thôn Đa Hòa, xã Bình Minh.

Chùa Đa Hòa

Đền được xây dựng trên một khu đất cao, bằng phẳng, hình chữ nhật, diện tích 18.720m². Mặt đền quay về hướng Tây, nhìn thẳng ra bãi biển Tự Nhiên (thôn Ngư Đôi, xã Tứ Dân) – nơi công chúa Tiên Dung, con gái Vua Hùng thứ 18 gặp Chử Đồng Tử và hai người nên duyên vợ chồng.

Ngôi đền được chia thành ba khu. Khu ngoài có diện tích 7.200m², không có tường bao, kiến ​​trúc duy nhất là nhà bia 2 gian, 8 mái cong, có cửa mở ra 4 hướng. Trong bia có tấm bia đá với nội dung kể về thời gian trùng tu đền Đa Hòa và nhân duyên bạc mệnh của Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Từ đây, men theo con đường gạch rộng 6m với hai bên đường là những hàng cây gạo cổ thụ tỏa bóng mát, bạn sẽ đến cổng chính. Qua cổng chính là vào khu giữa. Khu này có diện tích 3.400m², xung quanh có tường thấp, trồng nhiều cây xanh và chia làm hai khu: khu bên phải có lầu chuông, bên trong có chuông đồng cao 1,5m; khu bên trái có gác xép, bên trong có ghế đá rộng 1,2m; ngăn cách hai khu vực này là một con đường lát đá dẫn từ cổng chính vào Ngọ Môn với ba lối ra vào, bên trên treo bức đại tự có bốn chữ sơn son thếp vàng “Bồng Lai Cung Đô”. Bước qua cổng là vào khu vực bên trong. Với diện tích 11.520m², kiến ​​trúc cung đình triều Nguyễn có sự kết hợp hài hòa giữa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, nội khu gồm: sân đình, đại đình, sân chầu, hương án, cung đình. . thứ hai, thứ ba và hậu cung. Nối các cung điện là hậu cung, nhà bạt, nhà ngựa, nhà đại bác … Trong hậu cung có 3 điện thờ: Thánh Chử Đồng Tử (ở giữa), Hoàng hậu Tiên Dung công chúa (bên trái). , và thiếp Hồng Vân. – Tây Sa (bên phải).

Tổng thể công trình kiến ​​trúc khu vực này gồm 18 ngôi nhà mái cong hình 18 con thuyền rồng cách điệu. Đây là công trình kiến ​​trúc đặc biệt nhằm tái hiện lại cảnh đoàn thuyền của công chúa Tiên Dung ra khơi trên bến sông.

Ngoài kiến ​​trúc độc đáo, đền Đa Hòa còn lưu giữ nhiều di vật quý hiếm, tiêu biểu là: 3 chiếc bàn thờ bằng gỗ có niên đại cuối thế kỷ 17-18. Đây được coi là những chiếc ngai vàng cổ nhất còn được tìm thấy. tìm thấy ở nước ta ngày nay; đôi chum gốm Bách Thọ (một trăm chữ sống, không có hai chữ nào giống nhau được khắc trên thành lọ)…

Rời đền Đa Hòa, du khách sẽ đến với đền Dạ Trạch (thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch), nơi gắn với truyền thuyết về đầm Dạ Trạch. Tương truyền, tại địa điểm Chử Đồng Tử cùng hai người vợ là Công chúa Tiên Dung và Hồng Vân “hóa” về trời vào đêm 17 tháng 11 âm lịch, rơi xuống một đầm lớn là đầm Dạ Trạch ( đầm phá được hình thành). qua đêm). Được tin thần linh ứng, nhân dân địa phương đã lập đền thờ 3 vị thần trên vùng đầm Dạ Trạch và đặt tên là đền Dạ Trạch, còn gọi là đền Hóa.

Đền Dạ Trạch

Đền Dạ Trạch đã được trùng tu nhiều lần, tuy nhiên kiến ​​trúc hiện nay là kết quả của lần trùng tu năm 1890 với kiểu chữ Công (工), mặt chính hướng đông, hồ bán nguyệt, mái chạm nhiều rồng, phượng rất đẹp, gồm ba ngăn. Trong đó, hậu cung là gian được thiết kế đẹp nhất với mái vòm cuốn ba cấp, tạo cho du khách cảm giác như đang đứng trong khoang thuyền. Từ ngoài vào bên phải, trước tiên là ban thờ đình làng, đình làng, tượng người quân tử, sau là ban thờ thân nhân của Thánh Chử Đồng Tử; Bên trái là bàn thờ quan thuyền Bế Ngư (tượng cá chép bằng gỗ sơn son thếp vàng), bên cạnh là bàn thờ Triệu Việt Vương (548 – 571). Chính giữa hậu cung là 3 điện thờ: Thánh Chử Đồng Tử (ở giữa), Hoàng hậu Tiên Dung, công chúa (bên trái), thiếp Hồng Vân (bên phải). Ngoài ra còn có tượng của hai con ngựa, một đỏ và một trắng. Tương truyền, đây là hai con ngựa mà Thánh Chử Đồng Tử cùng hai người vợ cưỡi để chữa bệnh cho nhân dân.

Ngoài kiến ​​trúc chính, trong khuôn viên chùa còn có lầu chuông, bên trong là chuông Dạ Trạch từ Chung (chuông chùa Dạ Trạch) đúc năm Thành Thái thứ 14 (1902), dài 1,5m. , Rộng 0,8m; hai dãy nhà chín gian, ngày xưa đây là nơi cất giữ chín cỗ kiệu; hai tấm bia đá dựng đối diện nhau (một tấm đã bị vỡ), dựng năm Gia Long thứ 17 (1819), cao 1,6m, rộng 0,8m, dày 0,17m; hồ bán nguyệt; nhiều hoành phi, câu đối ghi lại sự tích Chử Đồng Tử – Tiên Dung – Tây Sa; đặc biệt là hình ảnh chiếc nón và cây trượng – hai vật dụng mà Thánh Chử Đồng Tử đã dùng để cứu nhân độ thế.

Đền Dạ Trạch được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử kiến ​​trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1989.

Để ghi nhớ công ơn của Thánh Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, hàng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội Chử Đồng Tử. Đây là một trong 16 lễ hội lớn nhất cả nước với các hoạt động văn hóa, thể thao hấp dẫn. Độc đáo nhất là lễ rước nước với sự tham gia của 10 chiếc thuyền nối đuôi nhau sang sông Hồng lấy nước dâng Thánh lễ tại đền Đa Hòa và Dạ Trạch. Hoạt động này được tổ chức theo phong tục cũ, diễn ra trong hai giờ. Trong quá trình di chuyển của thuyền, trên thuyền còn có màn múa rồng.

Từ đền Dạ Trạch đi hơn 2km về hướng Nam là đến cửa Hàm Tử (xã Hàm Tử). Đây là địa danh lịch sử nổi tiếng, ghi dấu cuộc chiến chống quân Mông Cổ thắng lợi vẻ vang năm 1285 của quân dân Đại Việt dưới thời nhà Trần. Điểm đến cuối cùng trong hành trình này là Bãi Sậy (xã Tân Dân) – địa danh lịch sử nổi tiếng gắn liền với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo từ năm 1885 đến năm 1892 – một trong những cuộc nổi dậy của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19 chống lại Sự cai trị của thực dân Pháp.

Related Articles

Back to top button