Du lịch Hà Tĩnh

Đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu

Đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu

Đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu

Theo lộ trình từ Bắc vào Nam, Đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu thuộc thôn Tam Hải 2, xã Kỳ Ninh, thị xã Kỳ Anh, cách Quốc lộ 1A 8km về phía Đông. Trải qua bao biến thiên của thời gian và lịch sử, “Đền thiêng nơi cửa biển” vẫn giữ được vẻ cổ kính, linh thiêng và trở thành điểm du lịch tâm linh của du khách thập phương.

Bà Nguyễn Thị Bích Châu quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, là con gái của một vị quan nổi tiếng họ Nguyễn. Năm Long Khánh thứ nhất (1373), bà được vua Trần Duệ Tông chọn làm Cung phi, lấy hiệu là Phù Dung. Khi đó, chế độ phong kiến ​​nhà Trần đang suy tàn, nhân tài không được trọng dụng. Phối sư Nguyễn Thị Bích Châu thảo bản thảo “Kế minh mười sách” dâng vua, được vua khen là sáng suốt.

Tác phẩm “Tả thập di thư” của Nguyễn Thị Bích Châu đã nêu ra những điểm quan trọng và thiết thực nhất về đường lối chính trị, văn hóa, quân sự giúp vua trị nước. “Kênh mười sách” không chỉ phù hợp với thời đại nhà Trần lúc bấy giờ mà còn có giá trị to lớn đối với các thế hệ sau này.

Năm 1377, vua đem quân đi đánh Chiêm Thành, khuyên vua không được, bà xin theo hầu để hộ giá. Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn), vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga sai sứ mang vàng ngọc đến dâng cúng, nhưng nửa đêm bất ngờ tấn công. Trong trận này, Nguyễn Thị Bích Châu bị trúng mũi tên độc và chết vào đêm 11 – 12 tháng 2 năm 1377. Ba ngày sau, vua Trần Duệ Tông thua trận, một phần vì nhớ Quý Phi Bích. Đáng lẽ Châu đổ bệnh rồi chết. Lúc bấy giờ, vua Trần Phế Đế lên ngôi đã ra lệnh đưa linh cữu của Phối sư Bích Châu về triều để an táng. Tuy nhiên, khi đến cửa biển Kỳ Hoa thì gặp mưa to gió lớn, không đi tiếp được nên vua Trần Phế Đế liền xuống an táng xác bà tại đây và lập miếu để nhân dân cúng bái, hương khói.

Hơn 90 năm sau niên hiệu Hồng Đức thứ nhất 1470, vua Lê Thánh Tông trên đường đánh tan quân xâm lược Chămpa, đến cửa biển Kỳ Hòa, phát hiện ra ngôi đền, liền hỏi thăm dân địa phương, vào dâng hương. đã viết bốn từ. “Nữ Trung Hào Kiệt” dán trên tấm bia rằng: “Xưa là anh hùng cứu nước, vì vua mà vong thân, nay ta cũng vì nước mà đi đánh giặc. của nước giữ gìn lãnh thổ, có thánh thần thì giúp ta khai chiến, phò mã thành công, khi sứ thần về triều ta khởi dựng đền thờ để hiến tặng ”. Ngay trong đêm đó, mộng đẹp, vua Lê Thánh Tông liền cho quân đánh dẹp giặc, khi từ trận trở về, lệnh cho quân dân địa phương xây dựng lại lăng với ba cung điện ngày càng lớn hơn như bây giờ. Gian gian gồm có Thượng điện, Trung cung và Hạ điện để ghi nhớ công lao của nữ liệt sỹ Nguyễn Thị Bích Châu và đã ban sắc phong cho đền thờ là Chế Thắng phu nhân. Một thuyết khác nói rằng Bích Châu đã tự nguyện hy sinh mình làm vật tế thần biển để cứu vua và quân của ông.

Đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu được xây dựng từ thế kỷ 14, tọa lạc trên một cồn cát cao và khá rộng với diện tích 26.370m.2. Ngay từ cổng chính, du khách sẽ thấy 2 câu đối bằng chữ Hán:

Kế Minh Thập Sách thánh hiền lưu truyền Việt Nam.
Đánh thắng Bà, Mẹ, muôn đời bảo vệ miền Nam.
(Kế Minh Thập Sách về minh triết, thánh hiền lưu truyền đến Việt Nam.)
Chế Thắng phu nhân nhớ ơn mẹ đã có công gìn giữ, giúp đỡ nhân dân phương Nam)

Qua cổng chính sẽ đến Miếu Ông Quan Tả, du khách thắp hương trước khi vào lễ. Nhà Tả quan có tượng Ông Tạ với dáng đứng uy nghiêm, tay phải cầm giáo, tay trái cầm kiếm oai phong để canh giữ ngôi đền thiêng; Tượng cao 3m, rộng 0,8m. Qua nhà Tả quan, bạn đến cổng Tam quan, với lối vào là một công trình kiến ​​trúc hình cầu, có bậc lên xuống; Cổng có 2 nanh, hình vuông 3,3m, trên đỉnh có tạc tượng hai con trai. Trước cổng Tam quan xây dựng hai gian đình để gác chuông và bàn thờ.

Bước qua cổng Tam Quan, du khách sẽ đến ngay khu điện thờ chính của Bích Châu Phối, gồm ba tòa là Hạ điện, Trung điện và Thượng điện, ba tòa nối nhau theo kiểu chữ Công.

Cách hiên dưới 5m có lư hương cao 0,95m, rộng 0,45m, dài 0,65m, hai bên có hai con voi đứng phủ phục trên bệ. Nhà Hạ điện rất bề thế, được bố trí trong 3 gian lớn với hệ thống mặt tiền được trang trí khá cầu kỳ và công phu. Bên trong nhà Hạ điện, phía trên treo bức tranh “hai con rồng chầu mặt nguyệt”, chính giữa phía trên treo bức tranh phượng hoàng sơn son thếp vàng có hàng chữ. Thánh Đức Lưu Phương ”để khẳng định và ca ngợi công đức của Chế Thắng phu nhân, phía dưới là bàn thờ hội đồng, hai bên tả hữu khắc hai câu đối bằng chữ Hán.
Tiếp đến là Trung điện, hai bên tả hữu đặt các bức phù điêu các quan. Nối với Thượng điện là nhà dâng hương hay còn gọi là hoàng cung – nơi thờ các phi tần hầu hạ Thánh Mẫu; Hai bên bàn thờ của nhà dâng hương có treo hai câu đối bằng chữ Hán của Tri huyện Kỳ Anh, Lã Xuân Oai, niên hiệu Tự Đức 1867, được tạc trên ván gỗ sơn son thiếp vàng nhiều màu sắc.

Qua nhà dâng hương là đến Thượng điện gồm 3 gian, bàn thờ có mâm bồng, tượng Chế Thắng phu nhân dát vàng với gương mặt hiền hậu toát lên sự thông minh, ưu tú, nhân hậu, nhân hậu. quyết định.

Bên trái Thượng điện có tượng quan Ngô cưỡi hổ, trên tay cầm một con dao lớn, ánh hào quang tỏa sáng uy nghiêm, uy nghiêm. Bên phải là tượng Khâm Sai cưỡi ngựa, cầm bút với trí tuệ và sự kiên trì. Nơi đây tương truyền rằng phía sau bệ thờ là mộ của Chế Thắng phu nhân, người được chôn cất từ ​​thế kỷ 14.

Bên trái nhà Thượng điện là nhà Sắc, gồm 2 tầng với lối kiến ​​trúc cầu kỳ, cổ kính, tầng trên hình chóp, tầng dưới hình vuông, cửa vòm. Trên vòm cửa chính là bức ô chạm nổi hình rồng phượng cầm cuốn thư khắc 3 chữ “Tự Cảnh Phúc”. Tầng 2 của Nhà Sắc là nơi thờ tự và lưu giữ các sắc phong qua các triều đại.

Xung quanh nhà Sắc có hành lang rộng 0,7m, tường ngoài bao quanh, bốn cột trụ ở bốn phía, các mặt cột trang trí các hình tượng đặc trưng của dân tộc Việt Nam mang tính nghệ thuật cao. Bên trái nhà Sắc còn có cổng phụ nằm hướng Tây Nam, ngay bên trái cổng phụ là nhà văn bia dựng năm 2009, đây là nơi đặt tấm bia khắc “Kê minh thập sách” của. Bà, với 2 loại chữ Hán và chữ Hán.

Trải qua các triều đại phong kiến, bà Nguyễn Thị Bích Châu nhiều lần được sắc phong là Chế Thắng phu nhân, nhân dân tôn bà là Loan Nương Thánh Mẫu hay Mẫu Kỳ Anh. Bà được tôn làm Mẹ có từ khá sớm trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.

Gần 700 năm tồn tại, trải qua bao biến cố của lịch sử, chiến tranh và thiên tai, kiến ​​trúc của ngôi chùa đã phần nào bị phong hóa, mai một, không còn vẻ đẹp ban đầu. Tuy nhiên, đây vẫn là một di tích lịch sử đồ sộ, có ý nghĩa to lớn. Ngày 3/8/1991, Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận đền thờ Chế Thắng và phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu là Di tích Lịch sử và Danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia.

Đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu được cả nước biết đến là một điểm du lịch tâm linh nổi tiếng – nổi tiếng chủ yếu bởi sự linh thiêng của ngôi đền. Hàng năm, vào đêm 11, 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương và bạn bè gần xa về đây dâng hương giỗ Tổ, mỗi độ xuân về, hàng triệu du khách thập phương đổ về đây. Nhân dân khắp nơi trong và ngoài tỉnh về đây chiêm bái, dâng hương, cầu tài, cầu lộc, cầu bình an, may mắn cho một năm mới thuận lợi, bình an.

Related Articles

Back to top button