Du lịch Thanh Hóa

Đền thờ nàng Bình Khương và câu chuyện đẫm nước mắt

Câu chuyện Bình Khương ném mình xuống đá để chết theo chồng là một trong những bí ẩn ám ảnh nhất, hé lộ một phần quá trình xây thành đá mà ngày nay, mỗi khi nhắc đến người ta không khỏi xót xa và xót xa. đánh giá cao!

Đền Bình Khương và câu chuyện đẫm nước mắt Đền thờ Bình Khương phu nhân.

Đền thờ Bình Khương phu nhân (thuộc địa phận thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc) gắn liền với lịch sử hình thành Kinh đô của Thành nhà Hồ, cũng là Di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ, đã được UNESCO vinh danh. . Với nhiệm vụ dời đô cấp bách, Thành Nhà Hồ được xây dựng vào thời kỳ “không tưởng” với khối lượng công trình đồ sộ. Để xây thành, Hồ Quý Ly đã cho thợ đào đến 80.000 m3 đất, khai thác, vận chuyển, đắp 20.000 – 25.000 m3 đá phiến, có khối đá nặng tới 25 tấn (trên tường thành cửa Tây). Một công trình kiến ​​trúc đồ sộ phải hoàn thành trong thời gian ngắn và gấp gáp, vì lúc này quân Minh chuẩn bị sang xâm lược nước ta. Chính vì vậy, có vô số bí ẩn về quá trình xây dựng tòa thành bị chôn sâu bên trong những bức tường thành cây bụi mọc um tùm, hoặc chôn vùi dưới chân đồi, có lẽ phải chờ những cuộc khai quật quy mô lớn mới có thể giải thích hết được. . Tuy nhiên, vẫn còn đó những bí ẩn đã trở thành giai thoại để hậu thế không chỉ thấy được sự kỳ công, tài hoa của con người mà cả máu và nước mắt đã đổ lên đá hóa thành rêu phong. gió, lịch sử, văn hóa và cả những giá trị nhân văn lớn hơn khối đá hàng chục tấn nằm im lìm suốt hơn 6 thế kỷ qua. Câu chuyện Bình Khương ném mình xuống đá để chết theo chồng là một trong những bí ẩn ám ảnh nhất, hé lộ một phần lịch sử xây dựng thành đá mà ngày nay, người ta nhắc đến thì không khỏi. mà không khỏi ngậm ngùi và khâm phục.

Dân gian trong vùng còn truyền tụng rằng, công việc đo đạc, xây thành, đào hào, lập đền thờ tổ ở Thành nhà Hồ được tiến hành rất nhanh chóng và nghiêm ngặt. Trần Công Sính (chồng bà Bình Khương) là người được giao phụ trách việc xây tường thành phía đông, nhưng chính ông cũng không biết vì sao đoạn thành lại bị sập khi gần xây xong. Sau mấy lần cải táng, xây dựng lại, Trần Công Sính bị Hồ Quý Ly nghi ngờ mưu phản nên cố tình trì hoãn việc xây thành. Vì vậy, Hồ Quý Ly vu cáo Công Sinh tội phản quốc và sai người đem chôn ở tường thành cửa Đông. Tương truyền, người phụ nữ Bình Khương nghe tin chồng bị chôn sống bèn tìm đến động An Tôn. Khi biết chồng đã chết, cô đau đớn và tức giận đập đầu vào đá để kêu oan cho chồng. Cái chết đau đớn và ám ảnh để đòi lại công bằng cho chàng Công Sinh của cô gái Bình Khương đã khiến tòa án lúc bấy giờ phải điều tra lại nguyên nhân khiến một đoạn tường phía đông cứ trồi sụt. Sau khi đào sâu hơn, người dân phát hiện chân tường phía Đông có nguồn nước ngầm lớn, thường xuyên có cát đùn nên địa chất không ổn định. Đây là nguyên nhân khiến bức tường sau khi xây xong sẽ bị sập. Cuối cùng, để khắc phục sự cố, Hồ Nguyên Trừng – tổng chỉ huy kinh thành đã cho đắp một phiến đá to và rộng dưới chân móng. Kể từ đó, một phần mới của thành phía đông được xây dựng.

Câu chuyện về cô gái Bình Khương tưởng chừng như bị lãng quên, cũng như tòa thành đá từng rơi vào quên lãng khi hết vai trò lịch sử. Cho đến năm 1903, Tổng đốc Thanh Hóa lúc bấy giờ là Vương Duy Trinh trong một giấc mơ đã gặp một người phụ nữ khóc lóc, kêu oan cho chồng. Sau khi hỏi thăm người dân trong vùng và biết được đó là Bình Khương, ông liền quyên góp tiền của để xây dựng một ngôi đền khang trang để thờ nàng và dựng một tấm bia ghi lại câu chuyện Công Sinh – Bình Khương: “Lòng trung trinh in vào đá. / Lưu mãi muôn ngàn tiếng thơm Theo câu chuyện, chúng tôi đến với một di tích nổi tiếng, gắn với một câu chuyện bi tráng nhưng cảm động, từ lâu, ngôi đền thờ người đàn bà bại liệt đã bị mưa nắng bào mòn, cùng với do tác động của con người nên đã bị hư hại nặng nề, sau này khi được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới thì Thành Nhà Hồ. Trung tâm Bảo tồn Di sản kiến ​​nghị UBND tỉnh Thanh Hóa trùng tu, tôn tạo lại di tích, trả lại nguyên trạng ngôi đền như hiện trạng gồm tiền điện và hậu cung. có thể coi là một bằng chứng về một sự thật lịch sử đẫm nước mắt trong toàn bộ “dã sử” dùng để ghi lại quá trình hình thành, tồn tại và những giá trị bất biến của Hoàng thành. Hồ. Đồng thời cũng là minh chứng lưu lại và phát huy phẩm hạnh, phẩm cách của Bình Khương nói riêng và vẻ đẹp phúc đức của người phụ nữ Việt Nam.

So với 3 bức tường còn lại, bức tường phía Đông có lẽ là bức còn giữ được tương đối nguyên vẹn về hình dáng, kết cấu, vật liệu, chiều cao … Trải qua hơn 600 năm, “trơ cùng tuổi”, bức tường vẫn sừng sững như hiện nay. nó không hề bị hao mòn theo thời gian. Tuy nhiên, có một đoạn ngắn dường như “lạc nhịp” với tổng thể kết cấu tường bao. Đó là bức tường oan, nơi bắt đầu tấn bi kịch oan uổng. Dưới bóng cây xanh và thảm cỏ mọc từ chân tường thành, trong khuôn viên chùa có hai ngôi mộ của Công Sinh và người vợ chung thủy. Tuy nhiên, hiện vật ám ảnh nhất trong câu chuyện Bình Khương mà bà Vũ Thị Lựu (chánh văn miếu) giới thiệu với chúng tôi không phải là 2 ngôi mộ, mà là một tảng đá có in dấu bàn tay và đầu của bà. cô ấy. Theo sử sách, vào thời vua Đồng Khánh nhà Nguyễn, dân gian đồn thổi về dấu tay và đầu của Bình Khương mà sau 500 năm vẫn còn in rõ trên tường đá. Khi đó, một vị quan ở làng Đông Môn lo tin đồn sẽ ngày càng lan rộng, gây nhiều xáo trộn cho sự bình yên của làng nên đã thuê thợ về đục đẽo cả phiến đá và chôn cất. Việc này được thực hiện một cách âm thầm trong đêm mà không ai hay biết, nhưng sau khi đục đá, người thợ bất ngờ mắc một căn bệnh lạ và qua đời. Và kẻ nói dối cũng chết một cách bí ẩn không rõ lý do. Sự việc xảy ra khiến Doãn Thước sợ hãi nên sai quân lính đi tìm đào phiến đá rồi cất lại chỗ cũ. Đồng thời, trên phiến đá còn khắc dòng chữ “Trần triều Công Sinh – Bình Khương nương nương chi thạch” (nghĩa là: Phiến đá này ghi dấu tích của Bình Khương phu nhân, thê thiếp của ông Công Sính đời Trần). ).

Cũng nói về hiện vật đặc biệt này, Lưu Công Đạo – Tri huyện Vĩnh Lộc thời vua Gia Long (1816) – trong sách “Thanh Hóa tỉnh – Vĩnh Lộc huyện chí” có đoạn ghi: “Góc đông nam của thành có phiến đá Lớn, ở giữa lõm xuống như hình đầu người, hai bên có hai chỗ lõm nhỏ như tai, lại có hai vết lõm hai bên như hình bàn tay người, ngón tay nổi rõ. Tục truyền xưa kia, nhà Hồ xây thành, dân phải đi toàn dân làm dịch, cung không đủ cầu, họ Hồ tức giận lấp chỗ trống trong thành mà xây. Người vợ tên Khuông (…) thương cảm cho cái chết của chồng, tức giận không tha mạng, hét lên 3 phát, đập đầu vào đá, dùng hai tay vỗ vào đá khiến hòn đá bị lõm xuống. Lúc đó, có ai mà không rơi nước mắt, cảm động trước sự trinh nguyên của nàng khiến đá cũng phải bội. hang.” Những câu chuyện được ghi lại cách đây 600 năm và lưu truyền cho đến ngày nay, rất khó để kiểm chứng mức độ đúng sai. Chỉ có điều, trong ngôi chùa quanh năm khói hương nghi ngút này, phiến đá còn một vết lõm sâu và hai vết lõm nông vẫn được đặt ở vị trí trang trọng nhất, như một lời khẳng định cho tấm gương soi vẫn còn nhiều chi tiết. in dấu trên đá ngàn năm không mòn.

Trải qua bao nhiêu thời gian, câu chuyện Bình Khương gieo mình xuống núi đá đã quyện bụi, đã ngấm hơi thở cổ xưa của núi đá và vẫn lẩn quẩn trong nếp sống chậm rãi của làng cổ. Vạn vật vẫn không ngừng vận động và biến đổi, duy chỉ có tấm bia đá dựng trong đền không ngừng nhắc nhở hậu thế về sự tồn tại của đền Bình Khương, gắn liền với giai thoại về nhân vật được thờ: “Thành cổ mở đường đại mỹ nhân / Tấm bia của Bình Khương vẫn tri ân / Người mưu lược muôn nhà / Đá cứng, liễu mềm mà bất khả chiến bại / Dấu bàn tay đã mất mặt, anh hùng hào kiệt / Danh tướng vang dội trong bầu trời / Nửa trời Mặt trăng lộ thiên / Trung Trần sử sách ghi ”.

Related Articles

Back to top button