Du lịch Thanh Hóa

Đền thờ Tô Hiến Thành

Đền thờ Thánh Cả – Tô Hiến Thành tọa lạc tại thôn Tiên xã Hạ Lỗ, nay là xã Hoằng Tiến, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghè Hà Lộ, đền thờ Thánh Cả – Tô Hiến Thành hay còn gọi là đền thờ Sát Hải Đại Vương là những cái tên mà người dân địa phương thường gọi. Theo thần tích của làng, thần tên là Hà Lỗ (tên núi Hà Rỗ, tức núi Trường thuộc xã Hoằng Trường), tên thật là Hoàng Tổ, hiệu là Hoằng Minh, tên đẹp là Tô Đại Liêu, con cháu Hiệu là Sa Hải Đại Vương.

Cho đến đầu thế kỷ XIX, chúng ta mới biết rõ cái tên Hà Lộ. Xã Hạ Lỗ thuộc tổng Kim Xuất, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (tên làng Việt Nam đầu thế kỷ 19, tr. 108 – 1981). Xã Hạ Lỗ có hai thôn: thôn Vân và thôn Tiên Cựu, trong đó thôn Tiên Cựu là thôn có di tích đền thờ Đức Thánh Tổ – Tô Hiến Thành.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, xã Hạ Lỗ được sáp nhập thêm 2 thôn nữa thuộc xã Hoằng Yên. Năm 1953, với phong trào cải cách ruộng đất, chia lại ruộng đất và lấy tên mới là Tiên Thôn thuộc xã Hoằng Tiến.

– Thờ các nhân vật: Di tích thờ Thái phó Tô Hiến Thành, một vị quan lớn thời Lý (thế kỷ XII), là người có tài điều hành đất nước, cương trực, ngay thẳng và biết dùng người. Không chỉ là một người giỏi võ nghệ, ông còn rất chú trọng đến văn hóa và rất sùng đạo Nho.

Qua thần thoại và các nguồn sử liệu xưa, chúng ta biết chắc chắn về vẻ đẹp của Tô Đại Liêu, tức Tô Hiến Thành (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, trang 150, 1990). Tô Hiến Thành là tướng có tước vương làm việc trong cung Liêu của nhà Lý (dưới thời vua Lý Anh Tông, 1138-1175). Trong 3 tên đền kể trên, tên đền thờ Thánh Cả – Tô Hiến Thành đã quen thuộc với người dân.

Như vậy, di tích có ít nhất ba tên gọi khác nhau, nhưng tên gọi nào cũng đặt theo tên làng và nội dung thờ tự.

Miếu thờ “Chính Từ”, cho biết ông sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa. Tô Hiến Thành nổi tiếng là người có tài võ nghệ, ông mất vào tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179). Nhớ ơn ông và cảm phục tài năng của ông, nhân dân Thanh Hóa đã lập đền thờ ở nhiều nơi (riêng ở Thanh Hóa có 72 nơi thờ tự). Trong đó đền thờ ở Tiên Thôn, xã Hoằng Tiến ngày nay có quy mô lớn và uy thế. Người dân Hoằng Tiến tôn ông là Thành hoàng làng và gọi ông là Đức Thánh Cả hay Sát Hải Đại Vương.

Đền thờ Thánh Cả, hay Nghè Hà Lộ, là nơi thờ Tô Hiến Thành, một danh nhân lịch sử của đất nước vào thế kỷ XII (thời Lý).

Trong suốt 216 năm tồn tại của nhà nước phong kiến ​​tập trung đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhà Lý đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng nền móng vững chắc cho các triều đại sau. Những nhân vật nổi tiếng có công giúp đỡ các vua nhà Lý trong công cuộc dựng nước và giữ nước phải kể đến như: Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành. Tô Hiến Thành, Lê Phụng Hiểu … trong số những người đó, Tô Hiến Thành là vị đại thần được sử sách ghi nhận và nhân dân ca tụng. Khi ông mất, nhiều nơi trên đất nước ta đã lập đền thờ ông. Riêng ở Thanh Hóa, khắp nơi có 72 ngôi chùa, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng ven biển.

Theo các tài liệu lịch sử, truyền thuyết, huyền thoại để lại ở Tiên Thôn, xã Hoằng Tiến, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa:

Tô Hiến Thành, tự Hoàng Minh, Huy Tô.

Chức danh: Đại vương tướng quân

Thương hiệu làm đẹp: Tô Đại Liêu

Chính sử ghi: Thời niên thiếu Tô Hiến Thành quê ở Thanh Hóa. Truyền thuyết và truyện cổ tích đều là “danh chính ngôn thuận” ở xã Hà Giang, huyện Hà Trung, có ghi: “Cha Tô Hiến Thành làm quan nhà Lý, được cử đến vùng Hà Trung, thuộc đất Hà Giang ngày nay. , Cha mẹ của Tô Hiến Thành đã chọn cách sống và sinh ra anh.

Như vậy, Tô Hiến Thành sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa, sau vào triều làm quan, nổi tiếng là người có tài văn, võ. Sử thần Ngô Sĩ Liên kể về ông: “Tô Hiến Thành nhận làm trẻ mồ côi, trung thành, khéo dùng mưu trí khi gặp tai nạn, dù bị sóng gió giẫm đạp nhưng ông vẫn đứng vững như cột nhà. giữa dòng, làm yên trên thuận lợi, không hổ danh là bậc đại thần xưa, khi sắp mất vẫn vì nước, khuyên người tốt không phụ lòng mình ”(Đại Việt sử ký toàn thư. sách, tập I – trang 350 – 1972).

Trên thực tế, các nguồn tư liệu chính sử đều cho biết cuộc đời và sự nghiệp của Tô Hiến Thành như sau: Đầu đời Lý Anh Tông Tô Hiến Thành giữ chức Thái phó, lo việc quân sự. Lần theo Đại Việt sử ký toàn thư, chúng ta sẽ thấy những hoạt động của Tô Hiến Thành như sau:

  • Tháng 11 năm 1161, Tô Hiến Thành và Đỗ An Dy đi tuần du các vùng ven biển Tây Nam, giữ yên bờ cõi.
  • Tháng 7 năm 1167, triều đình nhà Lý cử Tô Hiến Thành đem thủy quân đánh Chiêm Thành.
  • Tháng 1 năm 1175, vua Lý Anh Tông ốm nặng, sai Tô Hiến Thành sang giúp Thái tử Long Trát (vì Thái tử còn quá nhỏ).
  • Tháng 7 năm 1175, vua Lý Anh Tông băng hà ở điện Thủy Quang, thọ 41 tuổi, trị vì được 39 năm. Thái tử Long Trát lên ngôi (tức Lý Cao Tông) lúc đó mới hai tuổi, mẹ ruột là Đỗ thị được phong làm Hoàng thái hậu, Tô Hiến Thành phụ chính.

Rõ ràng, Tô Hiến Thành là người có tài, có đức. Là người luôn ra lệnh nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng, ông được các vua nhà Lý tin tưởng trọng dụng và thăng quan tiến chức. Năm Trinh Phụ thứ 4 (1179), ông lâm bệnh, trước khi mất đã tiến cử một hiền nhân thay ông làm việc. Sau khi ông mất nhiều nơi trong nước được nhân dân lập đền thờ ông.

Riêng tỉnh Thanh Hóa, ngoài đền “Truh Tự” ở xã Hà Giang, huyện Hà Trung, ở xã Hà Lỗ (nay là xã Hoằng Tiến) huyện Hoằng Hóa, người ta còn nhớ câu chuyện về cụ Tô Hiến Thành đã dừng chân ở đây. nơi. Tại địa phận xã, khi tuần tra bờ biển, ông được tôn là Đức Thánh Trần, tức là Sát Hải Đại Vương, được tôn làm Thành Hoàng thần của làng.

– Thông tin tượng đài: Đền thờ Đức Thánh Trần – Tô Hiến Thành thuộc loại hình di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.

Tô Hiến Thành làm quan trong triều, khi mất, hiện chưa có tài liệu nào nói rõ mộ ông ở đâu, truyền thuyết và phép lạ, ta biết Tô Hiến Thành quê ở Thanh Hóa. Hoá học. Khi làm quan trong triều, ông đi tuần du các vùng ven biển Thanh Hóa.

Do thời tiết khắc nghiệt nên chùa cũng bị hư hại nhiều. Trải qua nhiều năm, do dân làng ý thức bảo vệ nên ngôi đền vẫn giữ được dáng vẻ và dáng vẻ ban đầu. Hiện nay, chùa tọa lạc trên một khu đất rộng, hiên trước lát gạch, đã hư hỏng nhiều, cho thấy kiến ​​trúc được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Quần thể kiến ​​trúc này gồm: Tiền đường ở phía trước, tòa Bái đường ở phía sau, tháp ống và hậu cung, liên kết với nhau theo bố cục hình chữ công. Bên phải toà Bái đường có giếng nước, phía sau, bên trái là toà nhà mẫu mới xây gần đây, quy mô nhỏ, mặt bằng hình chữ đinh. Một lớp tường gạch thấp tạo thành ranh giới giữa kiến ​​trúc này và khu đất rộng lớn phía trước.

Cổng vào là một tòa nhà 3 gian, 2 mái, tường nghiêng. Ở 4 góc là 4 trụ vuông vững chãi, chân của 4 trụ này đắp 4 hình con hổ. Mái và bờ được trát vữa to, mập, có gờ nổi tạo cho những bờ này vẻ đẹp tinh xảo. Hai bên đỉnh của thành lũy có hai cột trụ hai bên vì đắp nổi hình mặt hổ. Mái nhà được lợp bằng ngói lợp thông thường. Nghệ An có cửa vòm để đi vào, không có cửa ra vào. Bên trong được cấu tạo bởi 3 lớp cửa vòm cuốn có kích thước tương đương nhau cả về chiều rộng và chiều cao. Do bị mưa nắng lâu ngày tàn phá nên phần mái phía trước bị sập khá nhiều.

Nhìn chung, toàn bộ cổng được xây dựng như một ngôi nhà, chỉ có điều bên trong không bố trí được gì ngoài tác dụng đi lại. Vật liệu xây dựng hoàn toàn bằng gạch, vôi vữa, không dùng gỗ. Kiến trúc cổng vào hoàn toàn bằng vật liệu trên, một phần phù hợp với vùng đất gần biển do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.

Bước qua cổng trước là một khoảng sân rộng bằng đất sét, nay được lát bằng gạch đỏ, có ba bức tường bao quanh. Sân được trồng cây cảnh, cây bóng mát. Tiếp giáp với sân là khu Tiền đường, nay toàn bộ khu Tiền đường đã được chuyển sang khu khác để làm nhà truyền thống của xã. Vì vậy, khu vực tiền đường còn trống, tạo thành sân ở nửa phía trước của khu hậu cung.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button