Du lịch Hải Phòng

Review Tham Quan Đền Thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Những điều Bí ẩn 2022

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở đâu?

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo được Nhà nước xếp thứ hạng cấp quốc gia năm 1991. Nguyễn Bỉnh Khiêm thủa nhỏ tên gọi là Văn Đạt quê ở trang Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Ngày sinh của ông chưa có sách nào ghi cụ thể.

Theo cuốn “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề – một danh thần ở khoảng cuối đời Lê Trung Hưng người làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương thi đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn năm 1736 đời Lê Ý Tông, làm quan tới chức Đông Những hiệu thư thị tham chánh sơn Nam đã viết: “Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491) lúc nhỏ vốn dáng kỳ vĩ, gần đầy một năm đã nói sõi. Năm 4 tuổi, thân mẫu dạy cậu học những bài nghĩa của kinh, mới đọc qua đã thuộc làu làu…”.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Lịch sử Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

To lên được mẹ và thầy Dương Đức Nham dạy học. Sang tuổi trưởng thành, ông học thầy bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Do xã hội lúc đó nhiều biến động, mãi đến năm 44 tuổi ông mới dự thi thời triều Mạc. Cả 3 kỳ thi đề đỗ giải Nguyên Khôi. Kỳ thi Đình năm Ất Tỵ (1535), ông đỗ Trạng Nguyên và được Vua bổ làm Hiệu thư ở viện Hàn Lâm, rồi Đại học sỹ tòa Đông Những.

Ông làm quan cho nhà Mạc được 8 năm rồi dâng “Thất trảm sớ”, không được Vua ưng thuận nên cáo lão từ quan về quê, mở trường dạy học, sáng tác hàng nghìn bài thơ bằng chữ Nôm và chữ Hán. Người đời tương truyền, ông có nhiều bài sấm ký bao quát tầm nhìn thời thế ứng nghiệm. Nhiều học trò theo học ông đã lừng danh như: Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Đinh Thời Trung, Trương Thời Cử… có người làm tới chức Tể Tướng. Như vậy, Ông không chỉ là cây đại thụ về thơ văn mà còn là một nhà giáo lỗi lạc.

Mặc dù sống cuộc đời điền viên, vui thú cỏ cây hoa lá, ngam thơ, vịnh cảnh cùng môn sinh nhưng lòng ông vẫn đau đáu nỗi yêu nước, thương dân. Ông mất ngày 28 tháng Giêng mùa đông năm Ất Dậu (1585) niên hiệu Diên Thành thứ 9 đời Mạc Mậu Hợp, thọ 95 tuổi.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm1

Triều đình nhà Mạc cử Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng về dự lễ viếng và thay mặt Vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công. Tháng Giêng năm Bính Tuất (1586), Vua Mạc ban cấp cho làng Trung Am 3000 quan tiền để lập đền thờ ông, có gắn biển mang hàng chữ “Mạc triều Trạng Nguyên tể tướng từ” do nhà Vua tự tay đề, đồng thời giao cho địa phương 100 mẫu ruộng thờ ông (theo TS Vũ Khâm Lân trong sách Đại Việt sử loại tiệp lục).

Như vậy, đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nền đất cũ được xây dựng xưa nhất là năm 1586. Sau đó do biến động của lịch sử, ngôi đền đó không còn, sau này mới được dựng lại. Theo “Công dư tiệp ký” của ông Vũ Phương Đề ghi: “năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão 1735, đời Lê Ý Tông) người trong làng vì nhờ Thị Đức của tiên sinh có dựng lại trên nền nhà cũ… người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân, thu hai kỳ đến tế lễ”.

Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam Đỗ Mười đến thăm đền đã ghi hàng chữ lưu niệm “Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn, một thầy giáo, một nhà triết học, một nhà dự báo, một danh hân văn hóa truyền thống như cây đại thụ bóng trùm cả một thế kỷ XVI. Tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, nhân phương thức cao cả song song với tri thức uyên bác và tài năng sáng tạo đã tạo nên sự nghiệp, uy tín và liên quan rộng to của ông mà đến nay chúng ta rất đỗi tự hào, trân trọng”.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm2

Năm Mậu Thìn 1929 (Bảo Đại thứ 3), dân làng quyên góp tiền bạc, công sức tu tạo lại ngôi đền. Tháng 9/1985, ngôi đền được Thành phố chỉ đạo tu sửa, mở mang khuôn viên, sửa lại đường sá. Năm 1998, đền được nâng cấp, tôn nền xây tường bao.

Nổi bật vào cuối năm 2000, kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng duyệt kế hoạch cho nâng cấp tạo dựng cả một vùng rộng to thành quần thể “Di tích danh nhân văn hóa truyền thống Nguyễn Bỉnh Khiêm” gồm: “Quán Trung Tân”, mộ phần cụ Nguyễn Văn Định (thân phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm), khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chùa Song Mai nơi phu nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tu hành. Đường đi được sửa lại, khuôn viên, vườn cây lưu niệm được qui hoạch, phong cảnh thật khang trang, ngoạn mục.

Quần thể di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm trên quê nhà

Tưởng nhớ và khắc ghi những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ở làng Trung Am, quê nhà của ông, con cháu và dân làng đã xây dựng một khu di tích gồm nhiều hạng mục công trình, là nơi thờ cúng và trưng bày hiện vật về thân thế và sự nghiệp của ông.

Qua khỏi cổng tam quan với 3 chữ Hán: Trung Am từ (tức đền Trung Am) là ngôi đền thờ chính gồm 3 gian lập trên nền nhà cũ của Trạng Trình, là nơi đặt tượng và bài vị của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tượng ông được làm bằng gỗ, trông thế ngồi trên ngai, mình mặc áo rồng vua ban, đầu đội mũ cánh chuồn, tay phải cầm cuốn tập giơ lên như đang giảng đạo thơ cho những học trò.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm3

Phía trước đền là hồ Thái Nhâm, trên khoảng đất giữa hồ có cầu bắc qua còn tấm bia đá làm năm Vĩnh Hựu nhà Lê (1736) ghi lại việc làm đền thờ Trạng Trình và tên những người đã đóng góp xây dựng đền.

Phía sau đền là 3 gian nhà lợp cói, mô phỏng am Bạch Vân, nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi từ quan đã về dạy học, làm thơ. Phương thức không xa Bạch Vân am là khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm và phù điêu. Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác phẩm cao 5,7 mét, nặng 8,5 tấn được làm bằng vật liệu đá Granit và trong tư thế ngồi tay cầm bút, tay cẩm sách, y phục nhà Nho, cốt phương thức giản dị.

Hai bức phù điêu, mỗi bức có cao khoảng hơn 5 mét, dài hơn 20 mét và được làm khá hoàn chỉnh cả về nồi dung, bố cục thẩm mỹ… Một bức diễn tả lại cuộc đời sự nghiệp của Trạng Trình từ lúc còn bé đến cuối đời; bức kia diễn tả một giai đoạn lịch sử của địa phương từ khi thực dân Pháp xâm lược cho đến nay.

Trong quần thể di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm, phương thức không xa đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm là phần mộ cụ Nguyễn Văn Định, thân sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm và tháp Bút Kình Thiên, tương truyền là do học trò tạo dựng để ca ngợi tài năng của Trạng trình như trụ cột chống trời, chùa Song Mai và đền thờ bà Minh Nguyệt (vợ thứ của Trạng Trình), di tích Quán Trung Tân bên bờ sông Hàn…

Nổi bật trong không gian của khu di tích có rất nhiều vườn tượng, với kích thước bằng người thật, diễn tả lại cuộc đời, cảnh dạy học khi xưa của Nguyên Bỉnh Khiêm, tạo nên một khung cảnh gần gũi và sống động.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm4

Hàng năm cứ đến ngày 23/12, người dân trong vùng và những nơi lại kéo về đền thờ tế lễ, dâng hương tưởng niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lân cận phần lễ, phần hội với nhiều trò chơi dân gian đánh vật, kéo co, chọi gà, cờ người… đã mang đến một không khí lễ hội dân gian độc đáo, để lại những điểm nhấn tốt xinh cho khách tham quan trong và ngoài nước

Nguyễn Bỉnh Khiêm Vị quan tài năng, đức độ

Phương thức thành phố Hải Phòng khoảng 40km có một khu di tích thường xuyên có nhiều khách tham quan đến chiêm bái với sự kính cẩn, tôn nghiêm, nổi bật là những em học viên và những nhà giáo. Đó là di tích lịch sử Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi thờ phụng bậc hiền tài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh ra và to lên tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân trong một hộ gia đình nhà Nho. Cụ thân sinh ra ông là Nguyễn Văn Định nổi tiếng hay chữ. Cụ thân mẫu Nhữ Thị Thục là con gái út của một vị quan to triều vua Lê Thánh Tông, là người học rộng, biết nhiều, lại giỏi tướng số. Dưới sự chỉ bảo của cha mẹ nên từ nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nổi tiếng thông minh, học giỏi.

Nguyễn Bình Khiêm to lên giữa lúc tình hình chính trị quốc gia khủng hoảng. Bởi không muốn đi vào “vết xe đổ” của những người thầy dạy mình nên dù học vấn uyên thâm nhưng Nguyễn Bình Khiêm không muốn bước vào con đường khoa cử. Khi nhà Mạc lên thay thế nhà Lê Sơ, tình hình chính trị quốc gia dần ổn định. Nhưng phải đến thời vua Mạc Thái Tông trị vì – thời thịnh trị nhất của nhà Mạc (năm 1535), Nguyễn Bình Khiêm mới quyết định ra ứng thí và đậu ngay Trạng Nguyên khi đã 45 tuổi.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm5

Ngay sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm Đông Những hiệu thư, rồi Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông những Đại học sĩ, tước Trình Tuyền hầu, Thượng thư bộ Lại, tước Trình Quốc công nên dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Sau khi vua Mạc Thái Tông mất đột ngột, vua nhỏ tuổi lên ngôi, khiến triều chính nhiễu nhương. Chứng kiến gian thần lộng hành, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ trị tội 18 lộng thần nhưng không được vua chấp thuận. Năm 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cáo lão về quê, ở ẩn.

Sau này, nhớ tới tài năng và đức độ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua Mạc Hiến Tông đã rất nhiều lần vời ông về làm quan, nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn nhất quyết không chịu trở lại chốn quan trường. Ông chỉ nhận lời giúp vua những kế sách trọng đại khi vua cho người tìm đến hỏi. Triều đình nhà Mạc, Lê, Trịnh, Nguyễn khi có việc đại sự tìm đến hỏi ý kiến ông đều được ông tận tình chỉ bảo. Những bài thơ, những câu nói tiên tri đó được tập hợp trong cuốn “Sấm Trạng Trình”.

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nơi thờ tự thể hiện tấm lòng “tôn sư trọng đạo”

Khi Trạng Trình tạ thế, vua nhà Mạc đã cử nhiều đại thần cùng văn võ, bá quan về dự tang lễ, lại sai cấp hàng trăm mẫu ruộng, ba nghìn quan tiền lập đền thờ ông tại quê nhà. Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhân dân xây dựng trên nền nhà cũ của Trạng Trình. Cổng đền được xây theo kiểu truyền thống với tam quan rộng, phía trên có 3 chữ Trung Am từ (tức đền Trung Am), vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay.

Đền hướng ra hồ nước rộng, có chiếc cầu đá bắc ngang hồ. Đền thờ gồm có 3 gian tiền đường và 2 gian hậu cung. Đây là nơi đặt tượng thờ và bài vị của quan Trạng. Từ tấm bia đá còn lại nguyên vẹn đến ngày nay bên hồ nước cho thấy, đền thờ Trạng Trình được xây dựng năm Vĩnh Hựu nhà Lê (năm 1736).

Lập quy hoạch di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trải qua thời gian, ngôi đền đã được những thế hệ sau trùng tu, tôn tạo, mở rộng hơn với nhiều hạng mục công trình như: Đền thờ; nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm; phần mộ cụ thân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm; tháp bút Kình Thiên; tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá; hồ bán nguyệt, chùa Song Mai, đền thờ song thân quan Trạng, quán Trung Tân và quảng trường.

Trong đó, tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá granite, cao 5,7m, nặng 8,5 tấn, trong tư thế ngồi, tay phải cầm bút và tay trái cầm cuốn sách. Chùa Song Mai là nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm thường đến lễ. Lân cận chùa là nhà thờ bà Minh Nguyệt – phu nhân Trạng Trình. Phương thức đó không xa là Tháp Bút Kình Thiên được dựng lên phương thức nay hơn 400 năm, do học trò của Trạng Trình dựng lên để ca ngợi tài năng của thầy như cột chống trời (kình thiên). Hồ Bán nguyệt trong khu di tích rộng khoảng 1.000 mét vuông.

Phía phía bên phải đền thờ Trạng Trình được sắp xếp một khu vườn với những bức tượng bằng đá có kích thước như người thật, tái hiện cảnh nhân dân làng Trung Am vui mừng ra đón Trạng Trình khi từ quan trở về quê nhà. Những hình ảnh được mô tả khiến người xem hiểu hơn về tấm lòng yêu dân của quan Trạng.

Phía sau khu vườn là căn nhà 3 gian lợp cói, mô phỏng am Bạch Vân, nơi Trạng Trình sau khi từ quan về quê mở trường dạy học. Phía trước am mô phỏng tượng của những đứa trẻ cùng bố mẹ đến xin cụ Trạng dạy chữ, những vị quan của những thế lực phong kiến đến vấn an cụ việc quốc sự.

Lúc này, Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân, mở trường dạy học. Nhiều học trò của ông đều thành đạt cả về văn lẫn võ, làm quan dưới những triều đình nhà Mạc, Lê, Trịnh, Nguyễn như: Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quyện… Tuy đã là những vị quan to rường cột của triều đình nhưng học trò đều nhất mực tôn kính thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Khu di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong quần thể di tích còn tồn tại hai bức phù điêu đặt nơi quảng trường to, mỗi bức cao khoảng hơn 5m, dài hơn 20m, khắc họa những nét chính trong cuộc đời sự nghiệp của Trạng Trình từ lúc còn bé đến cuối đời và giai đoạn lịch sử của địa phương (từ khi Pháp xâm lược đến nay). Phía trước tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm là một quảng trường to, đây là địa điểm tổ chức những hoạt động của lễ hội đền Trạng vào ngày 23-12 hằng năm.

Lân cận đó, đây còn là nơi thành phố Hải Phòng tổ chức lễ biểu dương học viên – sinh viên tiêu biểu xuất sắc nhân dịp khai giảng năm học mới hằng năm. Đây là nét văn hóa truyền thống mới của Hải Phòng, thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo”, giáo dục về tấm gương sáng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Di tích lịch sử Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm là địa điểm thường xuyên được học viên, sinh viên những trường học của Hải Phòng đến dâng hương, xin chữ, cầu thi cử hanh thông. Đồng thời, nơi đây cũng là địa điểm quyến rũ khách tham quan cả trong và ngoài nước đã từng nghe đến công tích của Trạng Trình. Mỗi dịp ghé thăm di tích là dịp để nhớ về một Bạch Vân cư sĩ với lòng yêu dân, mở trường dạy học miễn phí, giúp học trò nghèo trên bước đường học tập và lập nghiệp.

Kỳ lạ 2 pho tượng biết đứng lên, ngồi xuống trong ngôi miếu cổ hơn 700 tuổi

Không phải 1, mà có 2 pho tượng biết đứng lên, ngồi xuống

Tọa lạc phương thức trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng hơn 40km, huyện Vĩnh Bảo là huyện đất liền xa nhất của thành phố hoa phượng đỏ. Ngoài khu di tích đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi đây còn nổi tiếng với pho tượng biết đứng lên, ngồi xuống trong ngôi miếu cổ Bảo Hà thuộc thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm6

Chỉ cần đi tới đầu làng Bảo Hà, tiếng cưa máy xẻ gỗ, tiếng đục đẽo vang lên bởi nơi đây vốn là làng nghề truyền thống đục tượng. Dọc 2 bên đường làng, những đống gỗ chất ngổn ngang đang chờ được tạo hình từ tay những người thợ tài ba.

Chúng tôi đến thôn Bảo Hà vào một ngày mưa bụi, kiểu thời tiết đặc trưng của miền Bắc những ngày sang xuân. Ngôi miếu cổ tọa lạc ở ven đường to, gần giữa làng. Cổng miếu khá to xinh và còn mới, hình như mới được sơn sửa lại. Trên những thân cột cổng là những câu đối, chữ đen nổi bật.

Ông Đặng Văn Thạnh (70 tuổi), thủ từ miếu Bảo Hà cho hay, ngày thường vẫn đông người dân hoặc những đoàn khách du lịch đến miếu tham quan nhưng do hôm ấy trời mưa nên vắng khách hơn.

actuongt2

Dẫn chúng tôi đi tham quan miếu, ông Thạnh giới thiệu, miếu Bảo Hà còn tồn tại tên gọi khác là Tam Xã Linh Từ. Sở dĩ mang tên gọi như vậy là do từ cuối thế kỷ 13, miếu được nhân dân 3 xã Hà Cầu, Bảo Động, Mai An xây lên.

Trải qua những thời kỳ nhà Lê, Nguyễn… miếu được trùng tu và mở rộng dần. Đến đời vua Thành Thái (1889-1907) là lần trùng tu cuối cùng nên miếu hiện nay mang phong phương thức kiến trúc thời Nguyễn nhiều hơn.

Miếu thờ vị Thành Hoàng làng là Đại vương Lý Linh Lang, thiếu niên thứ của vua Lý Thái Tông.

Theo thần phả, Linh Lang sinh vào tháng Chạp, năm Giáp Thìn (1064), được đặt tên là Hoằng Chân, mẹ là cung phi thứ 9. Linh Lang được sinh ra tại làng ở Trị Chợ, Thủ Lệ (quận Ba Đình, thủ đô hà nội ngày nay).

Khi giặc Tống xâm lược VN, Hoàng tử Linh Lang lãnh đạo quân sĩ chống giặc. Trong một đợt hành quân, ngài tới trang Linh Động (làng Bảo Hà ngày nay) dựng đồn binh, luyện tập binh sĩ, tuyển mộ quân.

Trong một trận giao tranh quyết liệt với giặc Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay), Hoàng tử Linh Lang đã gan dạ hy sinh. Về sau, để tưởng nhớ công ơn của ngài, dân làng Bảo Hà xây miếu thờ ngài trên nền đồn binh xưa.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm7

Dân làng khi đó đã tạc tượng ngài để thờ cúng. Là vùng đất nổi tiếng với nghệ tạc tượng và cái nôi của bộ môn nghệ thuật múa rối cạn, những người thợ tài ba đã tạo nên một pho tượng “có một, không hai” có thể đứng lên, ngồi xuống.

“Nhiều người cứ nghĩ trong miếu chỉ có một pho tượng, nhưng thực chất là có 2 pho. Tuy nhiên, chỉ có một pho được trưng ra cho mọi người cùng chiêm ngưỡng”, thủ từ Thạnh chia sẻ trình bày.

Theo ông Thạnh, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, pho tượng trước tiên đã bị phá hỏng khá nặng. Hiện pho tượng vẫn được lưu giữ trong hậu cung của miếu nhưng được che vải đỏ, chỉ những vị chức sắc quan trọng của địa phương mới được lại gần.

Năm 1991, miếu Bảo Hà được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Cũng từ đó, dân làng quyết định tạc thêm một tượng Đại vương Linh Lang giống với pho tượng cũ. Bức tượng này rất được đặt ở hậu cung nhưng để phục vụ khách tham quan. Ai nhu cầu, sau khi làm lễ đều được ông thủ từ cho nhìn thấy cảnh tượng đứng lên, ngồi xuống.

Giải mã bí ẩn bức tượng biết cử động như người thật

Tượng Đại vương Lý Linh Lang ở miếu Bảo Hà được tạc cao khoảng 1,7m, nét mặt khôi ngô, tuấn tú, đầu đội mũ Bình Thiên, thân vận áo Long Cổn ngồi trên ngai, tay cầm văn tự. Cạnh tượng là 4 mỹ nữ đứng hầu, phía trước là quan văn, quan võ đứng chầu.

Pho tượng có thể đứng lên, ngồi xuống là sự sáng tạo độc đáo, hiếm có của những người dân làng tạc tượng Bảo Hà. Người dân địa phương coi bức tượng là một báu vật của làng.

Theo ông Thạnh, bí mật của sự hoạt động của bức tượng Đại vương Lý Linh Lang tọa lạc ở cánh cửa hậu cung. Những nghệ nhân tạc tượng xưa đã khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật tạc tượng và nghệ thuật múa rối cạn, làm ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với những khớp chân của pho tượng.

Tham Quan Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm8

“Khi cánh cửa mở ra sẽ truyền lực lên những khớp nối ở chân khiến pho tượng dần đứng lên và ngược lại, khi cửa khép lại thì bức tượng lại trở về tư thế ngồi khởi đầu”, ông Thạnh giải thích.

Việc đóng, mở cánh cửa hậu cung để bức tượng đứng lên, ngồi xuống chỉ có ông Thạnh làm được vì ông là người giữ chìa khóa cánh cửa. Ngoài sự độc đáo của pho tượng Đại vương Lý Linh Lang thì ngôi miếu Bảo Hà cũng rất linh thiêng, vì vậy, thường sẽ có nhiều người lui tới đây để thờ cúng.

Ông Thạnh cũng tiết lộ thêm, trước bệ tượng có một giếng nước, đường kính khoảng nửa mét, hình bán nguyệt được gọi là “mắt rồng”. Thời xưa, nếu thả quả bưởi xuống giếng, quả bưởi có thể trôi xa ra tận sông Vĩnh Trinh phương thức khoảng 500m. Nhưng hiện nay, do người dân xây nhà nhiều, nên thả quả bưởi chỉ còn trôi xa khoảng 30-40m ra đến cái hồ trước cửa miếu.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button