Du lịch Hà Nam

Đền Trần Thương và những câu chuyện lịch sử còn mãi với nhân gian

Theo tài liệu lịch sử của nhà nghiên cứu Bùi Quốc Toản, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam, Đền Trần Thương (thôn Miếu, xã Trần Thương, tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xương, thuộc phủ Lý Nhân, tỉnh Sơn Nam) Thượng. , nay là thôn Trần Thương, xã Trần Hưng Đạo), nằm ở phía đông huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Đây là nơi được Trần Hưng Đạo chọn làm 1 trong 6 kho lương thực phục vụ cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên.

Tương truyền, trên đường đánh quân Mông – Nguyên năm 1285, với tầm nhìn của một nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc, Trần Quốc Tuấn đã chọn một gò đất cao, bấy giờ là Làng Miễu, lập 6 kho chứa lương thực. , phục vụ kháng chiến. Tại sao Hưng Đạo Đại Vương lại chọn nơi này? Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Toản phân tích:

Trấn Thương tọa lạc trên đất Nam Xang xưa và Lý Nhân ngày nay, chung khúc “Nam Xang từ Hạ xưa”, được bao bọc bởi sông Hồng, sông Châu tứ phía. Lại có câu: “Nam Xạng tứ quái”, là bốn quái vật mà các nhà địa lý đã gọi từ xa xưa (“Quái” theo Kinh Dịch là “Quẻ”). Đặc biệt, đất của Trần Thường nằm ở quái 1 Quẻ Càn (☰) là trời, là cha. Như vậy, quái một là ở Trấn Thương, tương ứng với nơi thờ Đức Thánh Trần. Đây là thế đất “Búp bê bái tướng” ở thế “Ngọa nhân mỹ” là một mỹ nữ nằm xuống để thờ Tướng quân. Hay “Ngũ mã sao chiếu mệnh” là 5 mã chầu trong nghi lễ ngoài và trong – Thất Sát là 7 sao (Bắc Đẩu) chiếu vào như Nam Tào, Bắc Đẩu, Văn Xương Tinh, Thủy Tinh, Mộc Tinh, và sao Kim. , hành tinh trên cạn. Hơn nữa, Trấn Thương còn nằm trên vùng đất hội tụ 6 con sông nhỏ, gọi là “Lục Đầu Khê”. Chính vì vậy mà Trần Hưng Đạo chọn làm kho lương và “ký gửi” phần sinh hoạt.

Sau khi thắng giặc trở về, Trần Hưng Đạo đã về đây ban lương cho quân dân như một lời tri ân đối với dân binh và sát cánh cùng triều đình. Ông gieo trồng chung sống, lấy dân ở đây làm quy luật, từ đó làng có tên là Trấn Thương. Sử sách không ghi chép nhiều về kho lương thực của nhà Trần ở đây, nhưng những truyền thuyết dân gian cùng với những dấu tích dày đặc quanh khu vực đền Trần Thương và những địa danh cổ gắn với Trần Thương từ thế kỷ 13 đến nay. bây giờ:

“Trấn Thương – Chữ Thương trong tiếng Hán cổ có nghĩa là kho lương thực. Vì vậy, Trấn Thương có nghĩa là kho lương của nhà Trần. Cả 8 thôn (xóm) đều có đình, chùa, miếu, quán, xóm, chợ, có nơi còn bị mất do chiến tranh, lũ lụt, như: Thôn 2, 3 Trần Thương có Đình Miếu, chợ Miếu, đình chùa. . 3; Xóm 1 Trần Thương có Đình Trung (đình Hồ), Quán, Nghè là nơi quan Tổng binh đến trú ngụ. Làng Thượng có đình Thượng và chùa; Khu Hoàng có chùa Vàng và chùa Vàng, chợ Vàng. Làng Như Trác có đình, chùa Trạc (Trạc Ngoại); Đình Trạc Nội (Đình Trạc) và Chùa Dí (nay dời vào sân đình thần); Đình, chùa Đồng Nhân; Đình, chùa Đội Xuyên … ”- ông Bùi Quốc Toản nhấn mạnh.

Sau khi Hưng Đạo Đại Vương mất năm 1300, để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân Trần Thương đã thờ ông tại kho lương thực xưa. Đến thời Hậu Lê năm 1783, ngôi đền chính thức được xây dựng và trở thành ngôi đền thiêng của đất nước. Nhân dân tôn vinh Hưng Đạo Đại Vương là Đức Thánh, là “Cửu Thiên Vũ Đế” từ trời giáng xuống để giúp dân, giúp nước, trừ yêu quái, đánh giặc.

Những câu chuyện về Đức Thánh Trần vẫn tiếp tục được lưu truyền trên thế giới. Những người cao tuổi trong làng như cụ bà Nguyễn Thị Lương, 96 tuổi ở xóm 2, thôn Trần Thường hay cụ bà Nguyễn Thị Toàn, 78 tuổi, luôn tự hào kể cho con cháu nghe những câu chuyện, truyền thuyết về Đức Thánh. và các địa danh cổ của làng. Những câu chuyện cổ tích khác nhau được người dân Trần Thương lưu truyền, không ai kiểm chứng được độ chính xác nhưng đều có chung niềm tự hào về truyền thống quê hương.

Cùng với giá trị lịch sử, quân sự, Đền Trần Thương còn có giá trị kiến ​​trúc, nghệ thuật mang đậm phong cách nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Ngôi chùa có kiến ​​trúc độc đáo theo tư duy phong thủy. Tổng thể không gian của đền Trần Thương có sự kết hợp hài hòa giữa phong thủy hữu tình, mây trời, non nước. Đền được xây dựng theo hình chữ Quốc vuông vắn, xây dựng theo kiểu “Tứ hải đồng đường”. Tổng thể kiến ​​trúc cảnh quan của chùa bao gồm nghi lễ ngoại, nghi lễ nội cung, năm toà, 15 gian, chia làm ba cung: Đệ nhất, đệ nhị, đệ nhị đẳng và hai giải vũ, năm giếng nước… tạo nên những nét độc đáo. của riêng của chùa.

Giá trị của Đền Trần Thương còn thể hiện ở lối trang trí kiến ​​trúc với các đề tài, họa tiết được chạm khắc công phu như: hai con rồng chầu mặt nguyệt, rồng bay, phượng múa, sóng nước, mây trời… tạo nên một bức tranh. Những bức tranh thiên nhiên vừa sinh động, vừa cổ kính, trang nghiêm hàm chứa triết lý dân gian.

Theo nhà nghiên cứu Bùi Quốc Toản, trong số hơn 200 hiện vật, sắc phong có giá trị còn lưu giữ tại chùa, bức hoành phi “PHONG VÂN TRƯỜNG HỔ” mang ý nghĩa sâu sắc rằng nơi đây là chốn tâm linh, được mây gió che chở mãi mãi.

Cùng với giá trị lịch sử – văn hóa, đền Trần Thương còn mang đậm giá trị văn hóa tâm linh qua lễ hội. Đặc biệt, lễ phát lương Đức Thánh Trần được tổ chức vào giờ Tý ngày Rằm tháng Giêng hàng năm, tái hiện lại hoạt cảnh “Khao quân” ​​của Táo quân nhà Trần với những nghi lễ truyền thống, hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Bao lương là lời cầu chúc – cũng là lời cầu nguyện của Đức Thánh Trần phù hộ cho một năm quốc thái dân an, làm ăn phát đạt, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhà nhà sung túc.

Lễ hội đền Trần Thương và lễ phát lương của Đức Thánh Trần đã trở thành một nét văn hóa đẹp, thể hiện niềm tin yêu, kính trọng các vị thánh có công cứu nước; Đồng thời thể hiện khát vọng chân chính, thiêng liêng được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Đền Trần Thương được Nhà nước công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt năm 2015, lễ hội là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2017 là động lực để cán bộ và nhân dân nơi đây có tinh thần xây dựng nông mới. làng mới, xây dựng quê hương văn minh giàu đẹp, cùng với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của đền Trần Thương.

 

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button