Du lịch Hưng Yên

Đình Đa Ngưu, thờ phụng thánh Chử Đồng Tử và nhị phu nhân Tiên Dung – Hồng Vân công chúa

Đình Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang thờ Thành hoàng làng là Thánh Chử Đồng Tử và hai người vợ của Chử Đồng Tử là Tiên Dung và Công chúa Hồng Vân.

Đình Đa Ngưu thuộc thôn Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tên làng có lẽ gắn liền với sự tích Chuông Chuông (phố Hiến) và chuông chùa Diên Hựu (chùa Một Cột, Hà Nội).

Huyện Văn Giang giáp làng Chử Xá, xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, quê hương của Thánh Chử Đồng Tử. Đình Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang thờ Chử Đồng Tử và hai người vợ của Chử Đồng Tử là công chúa Tiên Dung và Hồng Vân.

Chử Đồng Tử là một trong tứ bất tử của Thần đạo Việt Nam.
Có rất nhiều truyền thuyết về Chử Đồng Tử. Theo truyền thuyết, Chử Đồng Tử sống với cha là Chử Cù Vân tại làng Chử Xá, xã Văn Đức (nay là huyện Gia Lâm, Hà Nội), ven sông Hồng. Nhà nghèo, hai cha con chỉ còn một chiếc khố, phải thay phiên nhau mặc.

Khi người cha mất, ông gọi con trai và bảo con hãy giữ chiếc khố. Thương cha, Chử Đồng Tử trùm khố cho cha, không đóng khố, kiếm sống bằng nghề chài lưới ban đêm, ban ngày chìm nửa dưới nước, cập thuyền bán cá hoặc xin ăn.

Thuở ấy, Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) có một người con gái tên là Tiên Dung, thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm, thuyền rồng của Tiên Dung theo sông Hồng đến vùng ven sông gần Chử Xá.

Nghe tin động trời, Chử Đồng Tử vội vùi mình xuống cát để ẩn náu. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn trên bãi cát ven sông để tắm. Nghi ngờ ngay nơi ẩn náu của Chử Đồng Tử. Nước xối xả làm lộ xác Chử Đồng Tử. Tiến Dũng ngạc nhiên, hỏi han, suy nghĩ rồi hỏi cưới.

Hùng Vương nghe chuyện thì tức giận, cấm không cho Tiên Dung về cung. Biết ý cha, Tiên Dung ở với Chử Đồng Tử. Cả hai đều làm nghề buôn bán. Việc buôn bán không chỉ trong vùng, mà còn được hai vị thần này mở rộng ra dọc sông Hồng và lập các đội thương thuyền vượt biển ra nước ngoài.

Trên đường đi buôn bán, Chử Đồng Tử gặp nhiều bậc hiền tài của thiên hạ và học được vô số điều. Khi trở về, Chử Đồng Tử đã lập bến cảng, mở chợ đầu mối … Từ đó vùng này sầm uất, trù phú (nơi bắt đầu hình thành tuyến thương mại Kẻ Chợ, Thăng Long – Phố Hiến, Hưng Yên) . sau đó). Đội thương thuyền của Chử Đồng Tử to lớn, lộng lẫy như hoàng cung. Mọi người đều thờ Chử Đồng Tử.

Không chỉ là một thương gia giàu có, Chử Đồng Tử và Tiên Dung còn đi khắp nơi truyền bá những kiến ​​thức học được từ thiên hạ cho mọi người, từ triết lý sống, phương pháp chữa bệnh cho đến những nghề mới … Trong thời kỳ này, Chử Đồng Tử đã gặp gỡ và kết duyên. Tây Nương, người được vua Hùng phong là “Nội Trạch Tây cung Tiên nữ – Hồng Vân công chúa”, vì đã chữa khỏi bệnh hiểm nghèo cho vua.

Về việc dân làng chọn Chử Đồng Tử và hai bà vợ làm Thành hoàng để thờ, có người cho rằng dân làng muốn có vị quốc công nên đã chọn một vị Thành hoàng dân tộc để thờ phụng ‘; Có người cho rằng dân làng muốn noi theo Thánh Chử Đồng Tử trong việc học hỏi và truyền bá tri thức cho thiên hạ. Bất kỳ ý kiến ​​có ý nghĩa.

Đình Đa Ngưu nhìn về hướng Nam. Phía trước và sau đình là hai giếng Ngọc. Đình gồm: Nghi môn, Sân đình, Đại đình và các công trình phụ trợ khác.

Cổng phụ bên phải đình có chữ “Đa văn vi phú”, có thể hiểu là lấy sự mở mang văn hóa, tri thức, kết nối với tổ tiên làm hưng thịnh của làng. Cổng phụ bên trái có chữ “Dân thất vọng”, có thể hiểu là lấy sự thịnh vượng, bình yên, gắn bó, yêu thương của cư dân làm sự bền vững lâu dài.

Dân làng Đa Ngưu luôn tự hào là vùng đất giàu bản sắc văn hiến. Đa Ngưu là quê hương của Phó Đức Chính (1907-1930), một nhà cách mạng Việt Nam kiên cường chống chế độ thực dân Pháp, một trong những lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng.

Trong đó có sự kiện nhà cách mạng Phó Đức Chính đưa tổ chức của mình về đây lập căn cứ địa chuẩn bị chống Pháp. Sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và anh dũng hy sinh trên đoạn đầu đài cùng với Nguyễn Thái Học và 11 chiến sĩ.

Đình Đa Ngưu được xây dựng vào năm 1520, đến năm 1706, đình được tiếp tục tôn tạo và trùng tu, sửa chữa vào năm 1907. Đình Đa Ngưu là một ngôi đình độc đáo bởi sự hài hòa giữa đình và chùa và bởi lối xây dựng. phương pháp.

Khi khởi nghiệp, các già làng đã mua 101 cây gỗ lim và dùng 100 cây gỗ lim làm cột, 1 cây chẻ ra làm đục đẽo và không dùng đinh sắt. Hiếm có ngôi đình, ngôi chùa nào ở đồng bằng Bắc Bộ có kết cấu mái hiên, cột bao quanh như đình Đa Ngưu.

Hiện nay, đình Đa Ngưu vẫn còn nguyên vẹn 100 cột và là hình thức kiến ​​trúc độc đáo của đình – chùa.

Chủ đề nghi lễ

Cổng nghi lễ đình Đa Ngưu được xây dựng theo lối kiến ​​trúc truyền thống của đình, đền đồng bằng Bắc Bộ, gồm 4 trụ tượng trưng cho tam quan. Trụ xây bằng gạch.

Hai cây cột ở giữa cao và to; hai cây cột hai bên nhỏ và thấp. Cả 4 cây cột đều có đỉnh cột trang trí hình bốn con phượng hoàng, thân trên trang trí hộp đèn lồng, giữa là hộp câu đối trang trí, chân cột trang trí dạng cổ đao.

Giữa hai cây cột cao là cổng chính vào đình. Hai bên cổng chính là hai cổng phụ, đỉnh có mái che, dạng 4 mái. Có tường bao quanh nhà.

Nghi lễ đình Đa Ngưu, Văn Giang, Hưng Yên

Sân đình

Sân đình rộng 20m, dài 32m, lát gạch Bát Tràng. Giữa sân có một lối đi bằng gạch cao hơn sân xung quanh.

Bên trái sân có tòa Tả vu, nơi đặt đồ tế tự.

Từ cổng chính Nghi Môn nhìn vào sân đình Đa Ngưu.

Sảnh lớn

Đại sảnh gồm 2 tòa là chánh điện, chánh điện đặt song song với nhau.

Tiền điện dài 20m, rộng 7,7m, gồm 5 gian, 4 mái, có hành lang rộng 1,4m bao quanh 3 mặt.

Điện có kết cấu của một ngôi đình. Gian giữa có một tầng thấp gọi là gian giữa, là nơi tế lễ. 4 phòng hai bên lầu cao là nơi hội họp.

Tiền điện có 40 cột, cột chính cao 4,2m, đường kính rộng 0,45m, cột quân cao 3,1m, đường kính rộng 0,35m. Chính hệ thống cột được bố trí dọc hành lang đã làm cho ngôi đình có nhiều cột hơn các ngôi đình truyền thống khác.

Mặt trước và hai đầu hồi của Tiền điện đều có cửa bức bình phong cao 2,25m, trên có chấn song.

Tòa tiền đường, đình Đa Ngưu

Mặt bên của Mặt tiền đường

Chính điện có kết cấu kiểu đền với mặt bằng hình chữ “đinh” hoặc chữ T, gồm bái đường và hậu cung. Đường Bãi xây sát đường Tiền. Đi bộ trong đình không có sự phân biệt giữa hai tòa.

Tòa bái đường được thiết kế giống như Tiền đường 5 gian, 4 mái, 44 cột. Gian giữa có bức đại tự “Thánh cung vạn tuế” và các bức hoành phi sơn son thếp vàng, khảm trai trên cột và trước bàn thờ ca ngợi các vị thần được thờ trong đình.

Hậu cung có chiều dài 7,6m, rộng 4,7m, gồm 2 gian, 2 mái, 16 cột. Trong hậu cung có bàn thờ với bài vị thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung, Hồng Vân công chúa. Hậu cung có ván bao quanh, phía trước có cửa bức bình phong.

Chính điện giữa đình Tiền Đường và đình Đa Ngưu.

Bàn thờ bên trong đình Bái Đường, đình Đa Ngưu

Bàn thờ Thánh Chử Đồng Tử và Đệ nhị phu nhân tại Hoàng cung Đa Ngưu

Đình Đa Ngưu

Khắc gia

So với những ngôi đình nổi tiếng, đình Đa Ngưu có ít bức chạm khắc. Các hình chạm khắc tập trung chủ yếu ở gian trung tâm của tòa Tiên Điền và Bái Đường.

Các hình chạm khắc ở đình Đa Ngưu cũng được thể hiện thành từng nhóm theo các chủ đề: Thổ địa và thần tiên; Cảnh thiên nhiên, lễ hội; Cuộc sống hàng ngày.

6 đầu còn lại ở 6 cột trung tâm của gian Tiền Điện và Bái đường đều được chạm khắc hình đầu rồng. Các chữ lớn ở gian trung tâm được chạm khắc Tứ linh và Tứ quý.

Bài trí giữa tiền đường đình Đa Ngưu.

Trang trí giữa tòa Bái Đường, đình Đa Ngưu

Tên làng Đa Ngưu có thể có nguồn gốc: Khi dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình về Đại La, Thăng Long, để giải phóng tài nguyên, năm 1108, vua Lý Nhân Tông (vị Hoàng đế thứ 4 của nhà Lý, trị vì. vì vào năm 1072-1128), một quả chuông lớn được đúc ở chùa Diên Hựu, có tên là Giác Thế Chung (quả chuông thức tỉnh thế gian). Đây được coi là một trong tứ đại khí của Việt Nam thời Lý, gồm: Tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Phật Quỳnh Lâm.

Chuông chùa thường có hai dạng: chuông treo trong tháp gọi là lầu chuông và chuông đặt dưới đất trong công trình gọi là lầu chuông. Chuông chùa Diên Hựu lớn, nên đặt ở dưới đất, trong gác chuông, rìa chùa. Rùa ngoài đồng thường bò vào và trú ngụ trong nhà nên dân gian gọi đây là chuông Quy Điền.

Điều kỳ diệu là khi tiếng chuông Quy Điền vang lên, bao nhiêu vàng bạc, châu báu, nhân tài của thiên hạ cũng theo đó mà đổ về. Thăng Long trở thành đất Kinh kỳ thịnh trị. Một lần, khi tiếng chuông vang lên, một con trâu vàng rất lớn từ Trung Quốc trở về. Đến Hồ Tây, chuông ngừng, trâu lặn xuống hồ. Vì vậy, Hồ Tây còn được gọi là Hồ Kim Ngưu (Hồ Trâu Vàng). Trong màn đêm tĩnh mịch, người ta vẫn thấy Trâu Vàng nổi lên, sáng rực cả một góc trời.

Người phương Bắc sợ hãi, sai người đến nhiều lần. Người dân sau đó đã cất giấu chiếc chuông, chỉ cho một số người thân tín để truyền lại cho thế hệ sau. Đầu thế kỷ 15, nhà Minh xâm lược Đại Việt đã quyết định đưa quân đến phá chuông Quy Điền.
Lúc này, trên sông Hồng đã xảy ra một trận lũ lớn. Ở làng Nhân Đức, phường Hiến Nam, Hưng Yên, có một quả chuông trôi ở bãi sông. Dân làng tưởng đó là Trời, Phật bảo họ góp công xây chùa, dựng lầu chuông, gọi là Kim Chung Tự – Chùa Chuông Vàng.

Khi tiếng chuông chùa vang lên, không chỉ vàng bạc, châu báu mà cả nhân tài của thiên hạ đều đổ về Phố Hiến. Phố Hiến trở thành vùng đất trù phú, trù phú. Tương tự như câu chuyện Trâu vàng Hồ Tây, một đàn trâu vàng từ phương Bắc nghe tiếng chuông chạy đến đây, tiếng chuông ngừng phải lặn xuống sông, sau này gọi là Ngưu Giang, tên làng là. gọi là Đa Ngưu. .

Related Articles

Back to top button