Du lịch Thanh Hóa

Đình Động Bồng – công trình kiến trúc tiêu biểu thời Nguyễn

Thôn Đồng Bông, xã Hà Tiến (Hà Trung) nằm trong khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh. Trước mặt làng là dãy núi đá vôi, có nhiều hang động kỳ thú. Phía Bắc có dòng sông uốn lượn như dải lụa được nhân dân tôn tạo các công trình kiến ​​trúc như đình, chùa, đền. Phong cảnh nơi đây hữu tình, cùng với bề dày lịch sử đã tạo nên một khung cảnh làng quê yên bình, trù phú. Người dân đặt tên cho làng mình là làng Đồng Bông, chính vì vậy.

Đình Đồng Bông - công trình kiến ​​trúc tiêu biểu thời NguyễnĐình Đồng Bông (xã Hà Tiến, huyện Hà Trung).

Đình Đồng Bông được xây dựng ở phía Tây làng, nơi thờ Tô Hiến Thành – vị đại thần văn võ song toàn, tài đức vẹn toàn, hết lòng vì sự nghiệp chấn hưng đất nước. Không chỉ là một võ tướng bộc trực, cương trực, ông còn là một người chú trọng cả văn hóa và sùng Nho. Ông thi đỗ Tiến sĩ dưới triều Lý Anh Tông và mất vào tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179). Để tỏ lòng biết ơn và ngưỡng mộ tài năng đức độ của ông, Nhân dân đã lập đền thờ ở nhiều nơi. Riêng ở Thanh Hóa, có nhiều nơi thờ tự, nhưng thờ chính là đình Đồng Bông.

Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đình Đồng Bông là nơi chứng kiến ​​nhiều sự kiện lịch sử, như: Nơi nghe Bác Hồ gửi thư cho người cao tuổi cả nước; nơi tổ chức các lớp huấn luyện nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của dân tộc; nơi phát động các phong trào thi đua yêu nước; nơi diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hà Trung lần thứ nhất …

Về quá trình xây dựng đình, tư liệu duy nhất còn lại trên bức tranh thượng lưu ghi lại chính xác thời gian xây dựng đình làng Đồng Bông là “Năm Gia Long thập niên” (1812). Dấu ấn kiến ​​trúc trên khung gỗ của đình còn khá nguyên vẹn, phần nào cho thấy đình được xây dựng từ thời Nguyễn.

Về tổng thể, đình được bố trí theo kiểu vồ, tức là gồm Tiền đường và Hậu cung. Hậu cung đã bị phá bỏ hoàn toàn trong thời kỳ “đóng băng” trước đó. Nhà mặt tiền gồm 5 gian 2 chái, diện tích 405m2. Trước sân đình là sân đình rộng 12m, có cổng vào, trong sân đình có hai cây cột cao hai cột cao, trên đỉnh có hình quả trám. Cổng đình có 2 trụ vuông hình bát giác, trên có gắn đầu rồng ngậm cá sấu. Hai bên cổng chính có cổng phụ, ngoài cùng là đường vào đình, giáp đình là ao đình hình vuông. Xung quanh sân đình xây tường rào, hàng rào phía trước có hàng hoa ly.

Đi vào chi tiết về nghệ thuật kiến ​​trúc, trong tổng số 5 gian và 2 chái có tổng cộng 36 cột, được bố trí thành 4 hàng cột, trong đó có 12 cột lớn, 20 cột quân. Ngoài ra, có 4 cột ở hai đầu đầu hồi nối với cột lớn tạo thành đầu hồi. Ở mái hiên phía trước có 4 cột đá, thân đặt trên cùng là thân tròn, chân vuông ở dưới. Phía sau mái hiên để chống bẫy là những cột vuông xây bằng gạch, kiến ​​trúc mái theo kiểu mái cong, gồm 4 mái. Kiến trúc này khiến ngôi nhà được nâng lên một cách thanh thoát, nhẹ nhàng và bay bổng. Đặc biệt cách trang trí trên mái đình đã tạo nên sự hài hòa hòa hợp với con người, cây cỏ, hoa lá, động vật trong thế giới tự nhiên xung quanh đình. Các góc cánh uốn cong uyển chuyển như một bông hoa tươi, từng bông hoa lớn mềm mại, màu sắc tươi tắn. Hình tượng rồng trên đầu đại đao được uốn cong như bay lên phù hợp với tổng thể kiến ​​trúc. Ngói có hình mũi hài, hoa văn trang trí hài hòa, đẹp mắt. Diềm mái được chạm khắc hình ba chạc như lá đu đủ. Ngoài ra, trên mái, mép mái cong có trang trí các con vật như cá sấu đầu rồng ở 4 góc. Trên nóc có đắp lưỡng long chầu nguyệt làm cho sự hài hòa hợp lý của bộ mái đình càng thêm đẹp.

Bên trong đình được chia làm hai phần chính: vì kèo chính và vì kèo mái. Về cấu tạo, 4 vì chúng hoàn toàn giống nhau và được kết nối chủ yếu theo kiểu “bẫy xếp”. Những con đường này được làm theo cách giống nhau và được gắn vào các cột trụ. Những cây cột đứng này được chạm khắc giống với kiểu “Vạn tuế”, chỉ khác ở độ to nhỏ của các cột trụ.

Kết cấu vì kèo là khung gỗ hình chữ nhật, gồm 4 hàng cột, 2 cột lớn và 2 hàng cột quân ở hai hiên trước và sau. Liên kết với các bẫy vươn ra ngoài để tạo mái hiên ở cả phía trước và phía sau. Bộ vì mái về cơ bản là kết cấu giống nhau trên đỉnh của họng hai cột lớn là một quá giang. Bên trên quá giang là hai trụ lỗ mộng gắn vào mũi thứ nhất, cứ tiếp tục như vậy cho đến hết là đầu lỗ mộng lấy răng cưa làm nhiệm vụ nâng đỡ lương cao. Kết nối các giàn với nhau là các hàng 3 thanh xà dọc. Dãy dầm nằm bên dưới rào tổng cộng là 6 vì có 10.

Hàng ngang có quá giang cũng có 10 chiếc. Phía trên nóc là một dãy xà ngang làm nhiệm vụ như các bức hoành phi chống đỡ mái cũng có 10 chiếc. Nhìn chung, vì kèo kết cấu và kiến ​​trúc đều tuân theo một quy luật song song. Ngoài tính chất tạo hình vui mắt nghệ thuật độc đáo, những cây cột này còn ẩn chứa sự khỏe khoắn, chắc chắn, bởi chúng đã kết hợp được các yếu tố khác như: Quá giang, mũi khâu đầu tiên, cạm bẫy .. tạo nên không gian bề thế của kiến ​​trúc đình làng.

Quy mô và nghệ thuật kiến ​​trúc còn lại của đình thể hiện kỹ thuật tạo dáng cùng với quy mô kiến ​​trúc thanh thoát, bay bổng hòa quyện với nhịp sống của một làng quê. Đình Đồng Bông được coi là công trình kiến ​​trúc tiêu biểu của loại hình “kiến trúc địa phương” thời Nguyễn ở Thanh Hóa. Điều đó cũng nói lên khả năng trí tuệ, sức sáng tạo và sự đóng góp về tài năng, vật lực của các bậc cha anh đi trước. Cùng với những sự kiện lịch sử trọng đại diễn ra tại đình và những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của Nhân dân đã tạo cho đình một vẻ uy nghiêm trang nghiêm hiếm có.

Năm 2001, đình Đồng Bông được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Để bảo tồn và phát huy giá trị của đình, cần có sự kết nối sâu rộng với các di tích lân cận khác trong và ngoài vùng như: đình Gia Miêu, lăng Triệu Tường, đình Trung (Hà Trung); Chiến khu Ngọc Trạo (Thạch Thành) … Chỉ có như vậy, vẻ đẹp kiến ​​trúc, cảnh quan của Khu di tích lịch sử Đình Đồng Bông mới trở thành điểm tham quan văn hóa, du lịch quan trọng của vùng phía Bắc tỉnh, thu hút sự quan tâm của nhân dân và du khách thập phương. và xa.

Nguyên Ngọc

Related Articles

Back to top button