Du lịch Thanh Hóa

Hải Thanh – Một không gian văn hóa đặc sắc

Nói đến Hải Thành nói đến một không gian văn hóa đặc sắc, trước hết phải nói đến một quần thể đền, miếu phong phú chạy dọc sườn núi Do Xuyên và nhà thờ họ Ba Làng mang nhiều nét độc đáo. về kiến ​​trúc. Đặc biệt, hiếm có nơi nào như vùng cửa biển này mà đạo Phật và đạo Thiên chúa cùng tồn tại để làm phong phú và làm phong phú thêm đời sống tinh thần – tâm linh, cũng như hướng con người đến chân thiện mỹ. và sự hài hòa.

Hải Thành - không gian văn hóa đặc sắc

Câu lạc bộ bơi lội truyền thống xã Hải Thanh.

Hiếm có nơi nào như vùng cửa biển Hải Thanh (Tĩnh Gia) mà cuộc sống mưu sinh và tâm linh lại hòa quyện, hòa quyện với nhau như vậy. Những bến thuyền tấp nập, những làng nghề sôi động, những khu chợ ồn ào hàng ngày… dường như không đối lập với vẻ trầm mặc, tĩnh lặng của những đền chùa hay lễ hội linh thiêng. . Bởi lẽ, nơi đây, từ bao đời, bao đời, con người đã dùng sức mình để chống chọi với thiên nhiên, dựa vào biển để mưu sinh, lập nghiệp yên bình. Và cũng chính thực tế cuộc sống còn nhiều phần khắc nghiệt đã hun đúc nên bản chất con người thẳng thắn, trọng tình, hướng thiện, và nhất là tôn thờ con người, thiên nhiên, cũng như đề cao các giá trị văn hóa. Địa linh đã tạo nên những nét đặc trưng riêng của vùng đất này.

Nói đến Hải Thành nói đến một không gian văn hóa đặc sắc, trước hết phải nói đến một quần thể đền, miếu phong phú chạy dọc sườn núi Do Xuyên và nhà thờ họ Ba Làng mang nhiều nét độc đáo. về kiến ​​trúc. Đặc biệt, hiếm có nơi nào như vùng cửa biển này mà đạo Phật và đạo Thiên chúa cùng tồn tại để làm phong phú và làm phong phú thêm đời sống tinh thần – tâm linh, cũng như hướng con người đến chân thiện mỹ. và sự hài hòa.

Chùa Đục Tiên hay Du Xuyên – Ngọc Sơn cổ tự là di tích tiêu biểu nhất cho sự tồn tại của Phật giáo trong đời sống cư dân vùng cửa biển Hải Thanh. Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 30 (1769), đến năm Canh Ngọ 1870 đời vua Tự Đức, chùa được trùng tu lại. Không chỉ là nơi cư dân vùng biển thực hành các nghi lễ Phật giáo, chùa Đục Tiên còn là nơi thờ tự hoặc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu (Bà Chúa Liễu Hạnh, Cô Đôi, Ông Bà Hoàng).

Chùa Đốm Tiên có nghĩa là “đẹp như tiên cảnh”, có lẽ xuất phát từ khung cảnh hài hòa nơi chùa tọa lạc: Trên núi, dưới sông, lối lên chùa san sát nhau và người ta đã tạc lên hai câu đối “Thổ công. “. Vua, chùa làng, cảnh Phật Qua 24 bậc thang, người chiêm bái có thể chạm và gõ chuông cùng lúc Minh Mệnh đặt ngay cửa trái, như để cầu mong khi tiếng chuông vang lên, họ có thể thoát khỏi tham lam trần tục. , hận thù, và si mê và tiêu hết tất cả. an tâm hướng về cõi Phật.

Đền thờ Tứ vị Thánh nương ở Lạch Bạng (hay đền Lạch Bạng) là nơi người dân Hải Thanh tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn các anh hùng dân tộc, các danh tướng đã có công mở mang bờ cõi, bảo vệ non sông đất nước. quân xâm lược, trong đó có Hoàng đế Quang Trung, Tô Hiến Thành, Lý Thái Uy và Hoàng Minh Tự. Ngoài ra, đình còn thờ các vị thần gọi là Tứ vị Thánh nương. Tương truyền, vào năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Trần Anh thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Thuyền dừng lại bến Càn Hải (hay Cửa Cồn, Quỳnh Lưu, Nghệ An), đêm đó vua nằm mơ thấy thần hiện ra báo rằng “Ta là thiếp nhà Tống, vì giặc ép, nổi vào. sóng gió bão táp thôi. Trời đã sắc phong thần đã lâu, nay xin giúp thánh công đánh giặc ”. Khi tỉnh dậy, nhà vua liền sai các bô lão trong vùng hỏi chuyện. Gần đây, có một người vợ họ Triệu là hoàng hậu của Nam Tống, vì nhà Tống bị diệt vong, hai mẹ con bị dạt vào vùng biển phía Nam và bị mắc kẹt. ở cửa Cồn. Sau khi đi đánh trận trở về, nhà vua cho sửa lại đền thờ và xức dầu cho vị thần có công giúp vua dẹp giặc là Nam Hải khai quốc Đại Càn Thánh Nương. Đền thờ Tứ vị Thánh Nương do người dân Lạch Bạng lập, gần cửa Cồn và cũng được coi là đền chính.

Cùng với hệ thống di tích được bảo vệ và phát huy trong đời sống tinh thần của cộng đồng; Hải Thanh còn có một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, với kho tàng truyện dân gian, dân ca liên quan đến cuộc sống của ngư dân và vùng biển. Đặc biệt nhất, vùng đất cửa biển này còn lưu giữ và lưu truyền nhiều lễ hội dân gian, lễ hội văn hóa, lịch sử đặc sắc, nổi bật nhất là lễ hội Quang Trung, lễ hội làng Du Xuyên. và câu lạc bộ bơi lội truyền thống.

Lễ hội Quang Trung diễn ra vào ngày mùng 5 tháng Giêng là lễ hội lớn nhất, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng tham gia. Tương truyền, ngày 25 tháng 11 năm 1788, Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, ẩn náu một đội thủy quân ở Nghi Sơn, Lạch Bạng. Đến giữa tháng 12 năm 1788, đội thủy quân vượt biển vào sông Lục Đầu hợp lực với bộ binh đại phá quân Thanh ở Thăng Long. Trước khi xuất quân, nhà vua đã cho quân sĩ ăn Tết sớm với ngư dân Hải Thanh. Vì vậy, xã Hải Thanh vào những ngày lễ hội tràn ngập niềm hân hoan, thành kính và tự hào, bởi đây là nơi được vua Quang Trung chọn làm điểm dừng chân của đoàn quân thần tốc phương Bắc. Do thời điểm diễn ra phần lễ chính ngay sau những ngày Tết cổ truyền dân tộc nên việc chuẩn bị lễ hội được kết hợp với Tết Nguyên đán khiến không khí lễ hội càng thêm sôi động, phong phú. Theo phong tục xưa, mỗi khi mở hội, người dân sẽ làm lễ lớn và các loại bánh trái, sản vật của địa phương để dâng lên tưởng nhớ cuộc ra quân năm xưa diễn ra trên đất Hải Thành. . Đây cũng là một nét độc đáo, đặc sắc của lễ hội Quang Trung ở vùng đất cửa biển này.

Với đặc điểm địa lý của dải đất, nhiều tập quán sinh hoạt, sản xuất của cư dân Hải Thanh từ bao đời nay cũng được hình thành gắn liền với biển và mang đậm “chất” biển. Trong đó, Hải Thanh được coi là vùng đất “đa nghề” mà xưa là nghề giã cào – phương tiện đánh bắt lâu đời của cư dân vùng biển; nghề đóng thuyền đi biển đầu thế kỷ XX; nghề cá (câu mực, kéo co, gõ kiến ​​…). Cùng với đó là những nghề truyền thống đã giúp duy trì đời sống vật chất và phát triển kinh tế địa phương như làm cá khô, mắm ruốc, mắm chua và nổi tiếng nhất là nghề làm nước mắm.

Nghề làm nước mắm ở Ba Làng đã có lịch sử hàng trăm năm, nổi tiếng thơm ngon, được nhiều tỉnh, thành trong cả nước biết đến. Để có nước mắm ngon, người dân Hải Thanh rất coi trọng khâu làm chượp. Cá chạch thường có độ đạm cao và có thể tạo nên mùi thơm đặc trưng của mắm như cá trích, cá nục, cá sặc. Sau khoảng 1 năm ủ rượu, người làm nghề đã chiết xuất được những loại nước mắm có giá trị kinh tế cao… Có thể nói, sự ra đời và tồn tại của nghề truyền thống đóng vai trò rất quan trọng. cho sự phát triển của vùng đất Hải Thành, khi không chỉ giải bài toán kinh tế; mà những tri thức, kinh nghiệm, tập quán sản xuất, … được tích lũy qua nhiều thế hệ đã trở thành kho tàng tri thức dân gian vô giá, đang và sẽ góp phần làm cho ngày càng đầy lên, phong phú hơn. vì một không gian văn hóa đặc sắc mang tên Hải Thành!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button