Du lịch Hưng Yên

Làng nghề chạm bạc Huệ Lai – Cội nguồn của những bộ trang sức bạc

Làng nghề chạm khắc bạc Huệ Lai thuộc làng Phù Ủng, huyện Hưng Yên. Ở đây không chỉ nổi tiếng với những công trình kiến trúc uy nghi, mà du khách đến thăm còn được trải nghiệm các công đoạn làm ra những sản phẩm trang sức vô cùng độc đáo và tinh xảo.

Phù Ủng là một làng cổ thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, nằm ở phía bắc của mảnh đất ngàn năm văn hiến. Làng Phù Ủng nằm ở ngã 3 đường về Hưng Yên, Hải Dương và quốc lộ 5A. Hướng tiếp cận xã Phù Ủng từ trung tâm thành phố Hà Nội có thể di chuyển theo 3 tuyến đường cơ bản: Hướng thứ nhất từ Hà Nội đi Phố Nối 14 km qua Thị trấn Ân Thi rẽ trái đi thêm 8 km; Hướng thứ hai từ trung tâm Thị xã Hưng Yên ngược đường 39A về Trương Xá (Kim Động) rẽ phải đi 4 km qua Thị trấn Ân Thi đi thêm 8 km; Và hướng thứ ba từ quốc lộ 5A đến Quán Gỏi (Hải Dương) đi tiếp 3 km.

Làng cổ Phù Ủng (Hưng Yên) (nguồn: Internet)

Làng cổ Phù Ủng (Hưng Yên) (nguồn: Internet)

Lịch sử phát triển làng Phù Ủng

Theo các tài liệu thư tịch cổ, bia ký, sắc phong, tục lệ, địa bạ và các tài liệu lịch sử liên quan thì Phù Ủng xưa là một thôn lớn đứng đầu hàng xã, hàng tổng. Với vị trí địa lý quan trọng, từ lâu trong lịch sử, Phù Ủng đã là vùng đất giao thương buôn bán tấp nập, trung chuyển văn hoá giữa các vùng miền.

Lịch sử Đảng bộ huyện Ân Thi tập 1 (1930 – 1954) có viết: “Quá trình dựng nước và giữ nước, những cư dân ở đây đã khai phá đất đai tạo dựng nên quê hương giàu đẹp như ngày nay. Thời cổ xưa, mảnh đất này là đất của Lạc Long Quân, thời Bắc thuộc mảnh đất này thuộc quận Giao Chỉ, Giao Châu, Đằng Châu…”. Những tên làng của huyện Ân Thi còn đến ngày nay như: Chu xá, Đào xá, Ngô xá, Lưu xá, Đỗ xá, Lã xá, Đặng xá, An Trạch… cũng cho thấy Ân Thi là mảnh đất có lịch sử – văn hóa lâu đời.

“Phù Ủng là một làng quê cổ của vùng đất Ân Thi, Hưng Yên. Căn cứ vào thần tích các làng, xã cho thấy từ thời Hùng Vương, dân cư vùng này đã khá đông đúc, là nơi cung cấp nhân lực và vật lực cho các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và chiến tranh bộ tộc” .

Ngày nay, làng Phù Ủng thuộc xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Tên làng Phù Ủng từ khi được thành lập đến nay không thay đổi, còn tên xã Phù Ủng, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay đã có nhiều lần thay đổi để phù hợp với sự quản lý hành chính địa phương. Năm 1945, xã Phù Ủng đổi thành xã Thành Thái. Năm 1947, xã Thành Thái đổi thành xã Hoàng Hữu Nam. Năm 1954, xã Hoàng Hữu Nam đổi thành xã Đô Lương.

Năm 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra quyết định số 344/NQ-TVQH hợp nhất 2 Tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, đồng thời hợp nhất 10 huyện và thị xã của Hưng Yên thành 4 huyện và 1 thị xã của tỉnh Hải Hưng, huyện Ân Thi và Kim Động của Hưng Yên được hợp nhất thành huyện Kim Thi của tỉnh Hải Hưng (1979). Và trong thời gian này, xã Đô Lương đổi thành xã Phù Ủng, huyện Kim Thi, tỉnh Hải Hưng. Đến năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập. Nhằm hoàn chỉnh các đơn vị hành chính và theo đề nghị của hội đồng nhân dân tỉnh, ngày 27/1/1996, Chính phủ ra quyết định số 05/CP tách huyện Kim Thi thành hai huyện: Ân Thi và Kim Động. Từ đó cho đến nay làng Phù Ủng thuộc xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Cơ cấu làng, xã, thôn

Xã Phù Ủng hiện nay có 8 thôn, bao gồm: thôn Phù Ủng, thôn Huệ Lai, thôn Sa Lung, thôn Phương La, thôn La Mát, thôn Đồng Mái, thôn Hồng Lương và thôn Kim Lũ.

Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm lãnh đạo của Huyện Ủy – HĐND – UBND huyện Ân Thi và các ban ngành của huyện, sự chỉ đạo của Đảng Ủy, sự giám sát của HĐND, sự điều hành của UBND và sự phấn đấu của cán bộ và nhân dân, tình hình kinh tế và xã hội chung của xã phát triển khá nhanh với nhiều thành tựu.

Văn hóa truyền thống làng nghề Huệ Lai – Phù Ủng

Lịch sử phát triển nghề truyền thống

Nghề chạm bạc tại thôn Huệ Lai (nguồn: Internet)

Nghề chạm bạc tại thôn Huệ Lai (nguồn: Internet)

Theo tìm hiểu, chạm bạc không phải nghề gốc của làng nghề Huệ Lai. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, một số người con của Huệ Lai sang học nghề chế tác vàng bạc tại làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và mang nghề về làng. Từ đó người dân Huệ Lai biết đến cái nghề cần sự tỉ mỉ, cần cù và đôi bàn tay khéo léo này.

Được hình thành từ năm 1992, những ngày đầu, nghề chạm bạc chỉ thu hút được vài chục hộ tham gia. Năm 1998, hợp tác xã vàng bạc Phù Ủng được thành lập do ông Đỗ Xuân Chuyển làm chủ nhiệm nhằm liên kết những nghệ nhân và người làm nghề lại với nhau. Sau một thời gian kiên trì gắn bó, cùng nhau phát triển và đạt được những thành tựu nhất định, năm 2003, thôn Huệ Lai, xã Phù Ủng được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên công nhận là làng nghề. Sản phẩm chạm bạc của hợp tác xã đã được cục Công nghiệp địa phương, bộ Công thương bình chọn là một trong những sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của khu vực phía Bắc năm 2014.

Tuổi nghề của làng Huệ Lai đến nay đã được gần 30 năm. Hiện có trên 200 hộ gia đình với hơn 1000 lao động tham gia. Có những thời kì, nghề chạm bạc làm ăn khó khăn, sa sút, nhiều hộ bỏ nghề. Tuy nhiên được sự hỗ trợ của huyện Ân Thi, các ủy và chính quyền xã Phù Ủng đã triển khai đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hàng năm mở lớp đào tạo nghề chạm bạc, thu hút nhiều thanh niên tại địa phương đến học nghề, mở xưởng sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng.

Đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở xã Phù Ủng phát huy hiệu quả đã tạo điều kiện cho làng nghề chạm bạc thôn Huệ Lai phục hồi và phát triển. Với sự nhanh nhạy, bàn tay khéo léo, bản lĩnh cần cù, kiên nhẫn của những nghệ nhân ở thôn Huệ Lai đã sáng tạo ra nhiều mẫu sản phẩm đa dạng, mới lạ, đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần làm nên thương hiệu của làng nghề chạm bạc Huệ Lai.

Các loại sản phẩm truyền thống

Là một làng nông nghiệp truyền thống, những người nông dân ở đây đã bao đời gắn bó với cây lúa và đồng ruộng. Từ xa xưa, người dân Phù Ủng chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng, một năm hai vụ chiêm, mùa. Đề phòng những khi chiêm khê mùa thối, người dân làng Phù Ủng còn trồng thêm những loại rau xanh và hoa màu như ngô khoai.

Kinh tế thuần nông ở Phù Ủng luôn luôn được tăng cường bằng sức lao động cơ bắp của con người, sức kéo của gia súc (trâu bò). Cho nên tâm lý của người dân Phù Ủng nói riêng cũng như của cư dân nông nghiệp nói chung là “đông con đông của”, “con trâu là đầu cơ nghiệp”, dần dần trong quá trình lao động sản xuất, người dân đã đúc kết được kinh nghiệm thâm canh, kinh nghiệm trồng trọt qua các câu ca dao tục ngữ, phổ biến trong dân gian và dễ thuộc:

“Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn”

Hoặc:

“Sâu cấy lúa, cạn gieo bông

Chẳng ươm được đỗ thì trông khoai ngô”

Đây chính là một phương thức sản xuất chung cho tất cả người dân làm và sống bằng nghề nông nghiệp. Sự gắn bó “một nắng hai sương” với đồng ruộng từ bao đời nay đã đem lại cho người dân Phù Ủng những kiến thức kinh nghiệm canh tác lúa nước từ khâu thiết yếu nhất của quá trình sản xuất như “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đến kinh nghiệm luân canh, xen canh giữa lúa và hoa màu.

Ngoài nghề nông chủ đạo, trước đây làng còn có nhiều nghề phụ như đan sọt, vận thừng, đan chổi, chạm bạc… làm kinh tế phụ lúc nông nhàn. Hiện nay, trong khu di tích đền Phù Ủng vẫn còn mô Quả thừng, tương truyền là dấu tích khi xưa thuở còn hàn vi Phạm Ngũ Lão thường ngồi xếp bằng tròn bên cạnh đường cái quan chẻ tre đan sọt. Phù Ủng nổi tiếng với đặc sản “Gạo Đồng Đỗ – nước giếng Đình – cá rô Đầm Sét – nước mắm Vạn Vân”.

Các loại sản phẩm kế thừa, mới

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong làng được nâng lên rõ rệt. Trong làng không còn diện tích hoang hóa, toàn bộ diện tích canh tác đều được cơ giới hóa như máy cày, máy tuốt lúa. Hệ thống tưới tiêu thuận lợi, thực hiện đầy đủ quy trình kĩ thuật thâm canh thời vụ, dự báo, dự thính phòng trừ sâu bệnh.

Sản phẩm chạm bạc làng nghề Huệ Lai (nguồn: Internet)

Sản phẩm chạm bạc làng nghề Huệ Lai (nguồn: Internet)

Nhân dân trong làng có các hình thức hợp tác xã trong phát triển kinh tế. Đoàn kết giúp đỡ nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng thông qua chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển nghề phụ (dịch vụ thương mại phục vụ sản xuất tiêu dùng, nghề mộc, nghề nề… ) khuyến khích việc chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển kinh tế và nuôi cá tận dụng diện tích mặt nước ngọt (ao, hồ, sông ngòi..) rộng lớn.

Nhờ sự phát triển kinh tế, Phù Ủng đã từng bước xây dựng được cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn, từng bước nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

Từ một làng với 95% dân số chủ yếu làm nông, sau khi nghề chạm bạc được mang từ làng Châu Khê – Hải Dương về, cơ cấu chuyển đổi từ nông nghiệp sang thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã dần được phát huy, mang lại cơ hội nghề nghiệp cho rất nhiều người dân trong làng.

Trải qua hơn 20 năm duy trì và phát triển nghề chạm bạc, từ một làng nghề với tay nghề còn non, số lượng người tham gia còn ít và quy mô còn nhỏ lẻ, Huệ Lai đến nay đã trở thành một làng nghề chạm bạc với quy mô khá lớn với uy tín và chất lượng vươn xa đến các tỉnh thành cả trong và ngoài nước, đem lại mức thu nhập ổn định cho người dân trong làng, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế của xã tăng lên đáng kể.

Quá trình sản xuất các sản phẩm truyền thống

Giai đoạn 1: Chuẩn bị vật liệu

Bạc được chuẩn bị sẵn, phân loại và kiểm tra kĩ càng để không lẫn tạp chất, đảm bảo 100% bạc nguyên chất.

Sau khi có nguyên liệu, bạc được đưa vào khuôn để chuẩn bị cho các giai đoạn tiếp theo.

Giai đoạn 2: Xử lý vật liệu

Trong nghề chế tác trang sức bạc đòi hỏi ở người thợ cần phải có sự kiên trì cùng nhẫn nại trong từng công đoạn mới có thể cho ra những sản phẩm đẹp và tinh xảo. Một thành phẩm đẹp và vừa ý với khách hàng sẽ phải trải qua 4 giai đoạn:

  • Đầu tiên là tạo mẫu – giai đoạn quan trọng nhất. Ở bước này những ý tưởng sơ khai nhất về một mẫu trang sức mới sẽ được hình thành.
  • Tiếp theo người thợ sẽ tạo mẫu sáp hưu, khi làm nhẫn thì mẫu nhẫn sẽ được xuất ra và được khắc trên sáp cứng. Những khuôn sáp này có thể có màu xanh ngọc hoặc xanh lá cây sậm màu, được làm bằng tay hoặc máy.
  • Kế đến là công đoạn cắm cây thông – bơm sáp đổ thạch cao, đun chảy kim loại, đổ khuôn và cắt cây thông ra khỏi sản phẩm thô, hoàn thiện, gắn đá và đánh bóng sản phẩm.
  • Cuối cùng là kiểm tra chất lượng sản phẩm. Đây là công đoạn quan trọng, đảm bảo độ chính xác và tay nghề chế tác hoàn hảo. Bước này sẽ định giá cho sản phẩm trang sức được làm ra.

Giai đoạn cắm cây thông (ảnh minh họa - nguồn: Internet)

Giai đoạn cắm cây thông (ảnh minh họa – nguồn: Internet)

Đặc thù của nghề kim hoàn rất khắt khe, bởi nghề này không chỉ đòi hỏi sự cần cù chịu khó mà con đòi hỏi đôi bàn tay tài hoa khéo léo, óc sáng tạo để trổ những hoa văn, họa tiết trên các sản phẩm vàng bạc. Đối với những quy trình trên đều có các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc:

  • Tiến hành phân kim loại để xi mạ phải đảm bảo đúng thực hiện đúng kĩ thuật an toàn để bảo vệ sức khỏe và tránh ô nhiễm. Khi nấu kim loại để đúc hay chế “hội”, phải xác định và tính toán lượng kim loại để nấu thật kĩ, tùy theo yêu cầu về độ tinh khiết nhiều hay ít, tránh thừa thải gây lãng phí, hao hụt.
  • Khi sử dụng kim loại quý, điều quan trọng là tránh các vật liệu khác (không nằm trong tính toán) hòa lẫn vào kim loại và hợp kim.
  • Yêu cầu về độ nhẵn bóng được đặt ra là rất cao, ngay từ khâu gia công làm nguội, hay cắt gọt, cưa, giũa, uốn … đều phải thật cẩn thận để bề mặt kim loại không bị trầy xước, các dụng cụ như kẹp, búa, giũa … cũng phải có độ bóng thích hợp và đúng tiêu chuẩn.
  • Quá trình hàn phải luôn phủ lớp trợ dung (thuốc hàn) để không làm ảnh hưởng đến các phần còn lại của món sản phẩm do bị biến dạng nhiệt. Ngoài ra, quá trình làm sạch các phần oxy hóa bằng dung dịch axit cũng phải chú ý nhiệt độ và nồng độ, tránh để vật bị axit hòa tan do nồng độ quá cao. Các thao tác rót, rửa phải đúng và chính xác.

Ở giai đoạn nhúng bạc vào H2SO4 cho bạc trở nên trắng hơn:

  • Quá trình làm sạch các phần oxy hóa bằng dung dịch axit, người lao động phải rất chú ý đến nhiệt độ và nồng độ, tránh để bạc bị axit hòa tan do nồng độ quá cao.
  • Acid sôi sẽ giải phóng hơi ni-tơ, đây là loại khí rất độc hại đối với sức khỏe và các vật dụng trong xưởng. Người lao động cần tinh luyện kim loại ở nơi được thông gió tốt, sử dụng mặt nạ thở và găng tay đặc biệt để đảm bảo an toàn lao động.

Công trình di sản truyền thống làng nghề Huệ Lai – Phù Ủng

Đền thờ Phạm Ngũ Lão

Đền thờ Phạm Ngũ Lão (nguồn: Internet)

Đền thờ Phạm Ngũ Lão (nguồn: Internet)

Trong làng có hệ thống di tích lịch sử – văn hoá đền Phù Ủng. Đây là nơi thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão, người có công lao lớn đối với dân làng và đất nước. Khu di tích đền Phù Ủng gồm nhiều công trình kiến trúc có giá trị lịch sử và nghệ thuật: Đền thờ Phạm Ngũ Lão, đền Mẫu (thờ mẹ Phạm Ngũ Lão), lăng Phạm Tiên Công (thờ cha Phạm Ngũ Lão), lăng Vũ Hồng Lượng, chùa Cảm Ân, Phủ Chúa, Khuê Văn Các… và nhiều cảnh quan phụ cận khác có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Năm 1988, đền được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia. Đây là niềm tự hào của dân làng Phù Ủng bao thế hệ nay.

Khu di tích Phù Ủng là một quần thể kiến trúc có quy mô rộng lớn, bao gồm phần chính là đền thờ Phạm Ngũ Lão và nhiều công trình kiến trúc phụ trợ hợp thành. Di tích có địa thế phân bố rải rác, xen kẽ với khu dân cư và chạy dọc theo trục đường của làng.

Theo thuyết phong thủy, cụm di tích đền Phù Ủng tọa lạc trên khu đất đầu rồng (dân gian tương truyền: đền nằm cạnh dòng sông Cửu Yên uốn lượn như một con rồng uốn khúc, mà đầu rồng là khu đất dựng đền).

Đền Ủng nằm ở vị trí trung tâm của làng, rộng rãi, thoáng mát với những tán cây cổ thụ, kết hợp với chùa, phủ, lăng tẩm, ao Chạ, ao Tầm Sét, giếng Ngọc, mô Gò… tạo thành cụm di tích liên quan đến việc thờ phụng Tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ở đây có sự xen giữa truyền thống và hiện đại, giữa các kiểu kiến trúc đa dạng nổi bật phóng đãng ở vị trí trung tâm của làng. càng tô thêm nét đẹp cảnh quan và di tích lịch sử văn hóa làng Phù Ủng.

Lăng Phạm Tiên Công

Quần thể đền thờ làng Phù Ủng (nguồn: Internet)

Quần thể đền thờ làng Phù Ủng (nguồn: Internet)

Cách đền thờ Phạm Ngũ Lão khoảng 100m về phía nam là lăng mộ cụ Phạm Tiên Công (thân sinh Phạm Ngũ Lão). Lăng xây theo kiểu hình kiệu long đình có tắc môn, cột đồng trụ và hai tâm môn hai bên, xung quanh thềm lát đá xanh. Sau lăng là mộ xây tròn. Tiếp sau là hậu bành – nơi thờ cúng tổ tiên. Tương truyền, trước mặt lăng xưa kia có 7 mô đất nằm rải rác tạo thành chùm thất tinh (các cụ nói đây là nơi luyện tập võ nghệ của Phạm Ngũ Lão) hiện nay 7 mô đất này không còn nữa.

Đền Mẫu (Đền Nhũ Mẫu)

Đền Mẫu thờ mẹ Phạm Ngũ Lão, nằm bên phải trước cổng đền Ủng (bên kia đường Cán Cờ). Ngôi đền có kiến trúc thời Nguyễn, ba gian Tiền tế, hai gian Hậu cung, trong đền có tượng mẹ của tướng quân Phạm Ngũ Lão được tạc bằng gỗ. Ngoài ra, còn có bốn pho tượng người hầu bằng đá lấy từ bên ải Chi Lăng (Lạng Sơn).

Chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ

Từ khu đền ngoài, theo đường làng đi khoảng 300m về hướng đông là đến khu chùa Cảm Ân và đền thờ công chúa Tĩnh Huệ – con gái Phạm Ngũ Lão.

Tam quan chùa Cảm Ân được xây theo kiểu kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái, lợp ngói ta với tám góc đao cong lên thanh thoát nhẹ nhàng.

Lăng Vũ Hồng Lượng

Nằm trong quần thể di tích đền Phù Ủng phải kể đến công trình nghệ thuật điêu khắc đá tiêu biểu thời Lê (thế kỷ XVII), đó chính là lăng Quốc công Vũ Hồng Lượng. Lăng xây dựng theo hình chữ nhật, chất liệu bằng đá xanh. Các tác phẩm trang trí ở đây gồm nhiều thể loại phong phú và đa dạng. Đặc biệt có 4 pho tượng đá miêu tả văn võ thành 2 cặp đặt 2 bên lăng, mỗi cặp được chạm nổi cùng chung một phiến đá có đường nét cân đối sinh động, chứa đựng cái thông minh, hóm hỉnh của dân gian. Những bức phù điêu chạm nổi tứ linh tứ quý, chim thú, hoa lá của các nghệ nhân đương thời.

Chùa Tứ Ân

Là một ngôi chùa nằm ở thôn Kim Lũ, ngay cạnh bên nhà Văn hóa thôn Kim Lũ, có thể coi đây là vị trí trung tâm của thôn.

Di sản phi vật thể làng nghề Huệ Lai – Phù Ủng

Hưng Yên – Phố Hiến có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú với Nguyệt Hồ thơ mộng vang bóng một thời, ôm trong lòng và bao quanh nó là một mạng lưới dày đặc các phố cổ và làng cổ của xứ nhãn lồng, có truyền thống đánh giặc của du kích Hoàng Ngân và truyền thống văn hoá của Phố Hiến xưa – “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đây thật là một vùng quê sơn thuỷ hữu tình, địa linh nhân kiệt.

Về thăm Phù Ủng – quê hương của Tướng quân Phạm Ngũ Lão – một chàng trai có sức khỏe và nghị lực phi thường, đã về quê ngày đêm luyện tập võ nghệ chờ ngày triều đình tuyển chọn quân cấm vệ. Chuyện kể rằng: Từ sáng sớm tinh mơ cho tới khuya, trên bãi cỏ ven làng không mấy lúc vắng mặt Phạm Ngũ Lão. Từ môn cưỡi ngựa bắn cung đến côn, quyền, roi, kiếm, Phạm Ngũ Lão đều thành thạo điêu luyện. Chỉ duy nhất môn cắp giáo nhảy qua tường hào, Phạm Ngũ Lão luyện mãi vẫn chưa vừa lòng. Được dân làng giúp sức, Phạm Ngũ Lão đắp một cái gò đất ở ven làng để tập nhảy. Riêng việc đắp gò cũng là một việc để Phạm Ngũ Lão tập mang nặng. Cứ ba sọt đất đầy ăm ắp, Phạm Ngũ Lão nhấc bổng lên vai bước thoăn thoắt từ thùng đầu lên đỉnh gò, trong lúc các bạn khác, người khỏe nhất cũng chỉ mang được hai sọt. Vài ngày sau, một gò đất lớn đã nổi lên lù lù ở ven làng. Ngày nào cũng vậy, từ sáng sớm, Phạm Ngũ Lão đã có mặt ở chân gò, từ từ chạy lên đỉnh rồi lại nhảy xuống, hoặc chống sào nhảy qua gò. Sau mấy ngày luyện tập Phạm Ngũ Lão đã nhảy qua gò một cách dễ dàng. Nhưng không dừng lại ở đó, Phạm Ngũ Lão mặc quần dài rồi cho đất vào ống quần buộc túm lại để tập nhảy. Trong mấy ngày đầu, đôi chân của Phạm Ngũ Lão như bị gắn chặt xuống đất. Nhưng gian khổ không đẩy lùi được quyết tâm của Phạm Ngũ Lão. Từ bỡ ngỡ, khó khăn đến quen thuộc, lượng đất tăng dần cho đến ngày hai ống quần căng đầy, và khi đó gò đất cũng mòn vì gót chân của Phạm Ngũ Lão. Đến khi bỏ đất ra, Phạm Ngũ Lão cũng cảm thấy người lâng lâng nhẹ nhàng, nhảy qua gò như phượng hoàng nhảy qua đỉnh núi. Lúc này bức tường thành sừng sững trong sân trường Giảng Võ không có gì đáng sợ với Phạm Ngũ Lão nữa.

Ngày nay, xung quanh làng vẫn còn dấu vết của những gò đất gọi là mô Đai, mô Quả Thừng, mô Thần Đồng… là kết quả khổ luyện “đắp gò tập nhảy” của chàng trai họ Phạm. Đồng thời, những mô đất đó cũng là công lao đắp đê ngăn sông, đắp đất lập làng của người anh hùng Phạm Ngũ Lão và dân làng Phù Ủng. Cuộc đấu tranh với thiên nhiên diễn ra liên tục, từ thế hệ này sang thế hệ khác đã tôi luyện nên phẩm chất tốt đẹp cho con người Phù Ủng đức tính cần cù, chịu khó giàu nghị lực, thông minh, sáng tạo, lòng yêu quê hương đất nước, mà hình tượng Phạm Ngũ Lão là biểu tượng cho con người Phù Ủng.

Danh nhân: Trong các Đình, chùa/ Cán bộ Văn hóa xã

Phù Ủng không chỉ là đất võ mà còn là đất văn. Trong làng còn lưu giữ 4 tấm bia đá lớn ghi tên tuổi và sự nghiệp những bậc đỗ đại khoa trong làng từ thời Lê đến thời Nguyễn.

Vũ Vinh Tiến: sinh năm Canh Thân, Vĩnh Tộ thứ 2 (1620) đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) khi mới 21 tuổi, làm quan đến chức Tự khanh, tước Bá, khi mất được truy tặng tước Tử. Khoa này có 6000 sĩ tử dự thi, chỉ lấy đỗ 22 tiến sĩ, nghĩa là 273 người dự thi thì mới lấy đỗ 1 người, nhưng Vinh Tiến vẫn trúng tuyển.

Phạm Trứ: sinh năm Giáp Dần, Cảnh Thịnh thứ 2 (1794), đỗ Đình Nguyên khoa Nhâm Thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Khoa này lấy đỗ 8 tiến sĩ, 3 phó bảng, do không lấy Tam Khôi, nên Phạm Trứ tuy đỗ đầu nhưng chỉ được xếp ở hàng Hoàng Giáp, thế cũng là một vinh dự cho truyền thống hiếu học của một làng quê.

Lễ hội

Lễ hội làng Phù Ủng (nguồn: Internet)

Lễ hội làng Phù Ủng (nguồn: Internet)

Đời sống văn hoá dân gian của dân làng Phù Ủng khá phong phú. Bên cạnh kho tàng những câu ca dao, tục ngữ nói về cuộc sống lao động sản xuất, về tình làng nghĩa xóm,…. làng Phù Ủng còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về Phạm Ngũ Lão, một vị tướng tài ba dưới đời Trần, một vị thánh trong lòng nhân dân. Thời Nguyễn có cử nhân Vũ Huy Thịnh biên soạn cuốn Ngọc phả của Trần triều Điện soái Phạm Ngũ Lão, được phong là Phúc thần Chiêu cảm đại vương dựa theo truyền thuyết trong vùng. Cuốn Ngọc phả này hiện được lưu giữ tại đền thờ Phạm Ngũ Lão ở Phù Ủng – Ân Thi – Hưng Yên và được Thư viện Hán Nôm dịch.

Lễ hội đền Phù Ủng là hoạt động văn hóa lớn nhất trong năm của làng, được tổ chức hàng năm để tưởng niệm người anh hùng dân tộc Phạm Ngũ Lão. Ngoài ra còn có lễ Kỳ An (Kỳ Yên) mà người dân làng Phù Ủng quen gọi là Kỳ Anh. Các bậc bô lão trong làng cho biết: Lễ này được thực hiện ở chùa làng nhằm mục đích cầu mong sự bình yên cho dân, làng Phù Ủng và đồng thời thực hiện một phần ở đình để tế thánh và chúc thọ các bậc cao niên trong làng.

Ẩm thực, sản vật đặc thù

Là một ngôi làng Bắc Bộ truyền thống, làng Phù Ủng có những nét sinh hoạt văn hoá vật chất tương đồng với nhiều làng quê khác trên mảnh đất Ân Thi, Hưng Yên nói riêng và đồng bằng Bắc Bộ nói chung, được biểu hiện qua nếp ăn, ở, mặc, đi lại…

Do điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất quy định bữa ăn của người dân làng Phù Ủng cũng như bữa ăn truyền thống của dân tộc “Cơm + Rau + Cá”. Hưng Yên là tỉnh duy nhất ở đồng bằng Bắc Bộ không có núi, không có biển, do đó yếu tố “rừng”, “biển” rất mờ nhạt trong mỗi bữa ăn của người dân. Ngược lại, yếu tố “vườn”, ao hồ sông nước lại thể hiện rất rõ như gà, lợn, vịt, ngan, tôm, cua, cá…

Cũng như các làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ, trên mâm cỗ thờ cúng tổ tiên ngày Tết được bày biện phong phú hơn ngày thường, và không bao giờ thiếu đi một chiếc bánh trưng truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa Việt.

Nghệ thuật biểu diễn

Các loại hình diễn xướng dân gian phong phú vừa làm sinh động thêm cuộc sống thường ngày của người dân, vừa là phần không thể thiếu trong phần hội của hội làng, với nghệ thuật hát trống quân đã trở thành một nét đẹp văn hóa lâu đời.

Các phong tục, tập quán tiêu biểu (cưới hỏi, lễ hội, hương ước, quan hệ dòng tộc, láng giềng…)

Đời sống văn hoá tâm linh của người làng Phù Ủng khá phong phú và phức tạp. Tại đây ngoài tín ngưỡng thờ gia tiên (đạo ông bà), người dân còn thờ Phật, thờ Thần, thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng Làng tại đền, chùa, điện. Tín ngưỡng thờ gia tiên được thể hiện trong mỗi gia đình đều có bàn thờ ông bà tổ tiên được đặt ở nơi trang trọng nhất, sạch sẽ nhất, thường ở gian chính giữa. Ngoài ra, tín ngưỡng thờ gia tiên còn được thể hiện rõ nét trong việc thờ gia đình Phạm Ngũ Lão trong khu di tích đền Phù Ủng. Tại gian hậu cung đền thờ công chúa Tĩnh Huệ (con gái Phạm Ngũ Lão) đặt khám thờ và tượng Trần triều Hưng Đạo Vương (bố vợ Phạm Ngũ Lão). Hai bên tả hữu là khám thờ và tượng quận chúa Anh Nguyên (vợ của Phạm Ngũ Lão) cùng công chúa Thiên Thành (hoàng hậu vua Trần Nhân Tông). Trong làng có chùa Cảm Ân (hay chùa Bảo Sơn) là nơi thờ Phật. Bên hữu chùa Cảm Ân là phủ điện thờ Mẫu. Nằm ở vị trí trung tâm của làng là ngôi đền thờ Điện suý thượng Tướng quân Phạm Ngũ Lão, được coi là vị Thành Hoàng làng, Đức Thánh Phạm của cộng đồng.

Điều đặc biệt ở đây là phong tục tập quán của người làng Phù Ủng vừa mang đậm nét văn hoá của các làng Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng cũng có những nét riêng tạo nên những giá trị văn hoá độc đáo của làng Phù Ủng.

Tục trọng lão: Cũng như bao làng quê thuần nông khác ở đồng bằng Bắc Bộ, kính trọng người già ở làng Phù Ủng đã trở thành nếp sống đạo đức, tinh thần, thành văn hoá ứng xử mang tính nhân văn sâu sắc, thành truyền thống đáng tự hào của dân làng. Ở đây, người già được tôn trọng một mặt vì thuần phong mỹ tục “Triều đình trọng tước, hương đảng trọng xỉ”. Mặt khác, những người già trong làng chính là kho kinh nghiệm phong phú trong cuộc sống về cách ứng xử giữa cá nhân với cộng đồng, về kỹ thuật canh tác… truyền dạy những bài học quý giá đối với các thế hệ con cháu hôm nay.

Văn bản cổ, thư tịch, sắc phong, ghi chép trên bia đá, chữ trên cổng nhà, cổng làng

Di sản Hán Nôm: các công trình cổ của làng Phù Ủng đều có minh văn bằng chữ Hán, chữ Nôm. Đây đều là những trang sử chân thực, những lời chân thành và xúc động của người xưa ca ngợi di tích và nhân danh ở đây.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button